Việt Nam đặt mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng từ 15% đến 35% vào năm 2030 so với kịch bản phát triển bình thường, chưa tính sự đột phá.
17/10/2025
Thông tin này được cụ thể hóa trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Mục tiêu liên quan đến lĩnh vực năng lượng đến năm 2030 có nét chính như sau:
Giảm phát thải KNK từ hoạt động năng lượng: Khoảng 15% – 35% so với kịch bản phát triển bình thường.
Tiết kiệm năng lượng: Tỷ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng đạt khoảng 8% – 10% so với kịch bản phát triển bình thường.
Mục tiêu dài hạn: Việt Nam đã cam kết đạt mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050.
Để đạt được mục tiêu này, Chính phủ đã đề ra nhiều giải pháp. Trong đó có bao gồm nghiên cứu áp dụng thuế carbon đối với việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch và chuyển đổi các nhà máy điện than sang sử dụng khí tự nhiên, nhiên liệu sinh khối, hydrogen, amoniac.
Các giải pháp cụ thể
Chương trình xác định nhiệm vụ cụ thể để các bộ, ngành, địa phương xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 70; hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo thuận lợi cho phát triển năng lượng quốc gia theo tinh thần của Nghị quyết; tăng cường giám sát việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch và các chính sách phát triển năng lượng quốc gia; bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong tình hình mới.
Để đạt mục tiêu đề ra, bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố, các doanh nghiệp trong lĩnh vực năng lượng cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước và sự tham gia của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong bảo đảm an ninh năng lượng; hoàn thiện thể chế, chính sách để trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển năng lượng;
Phát triển nguồn cung và hạ tầng năng lượng, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng; đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, thực hiện linh hoạt cam kết quốc tế về giảm phát thải; thiết lập các biện pháp quản trị và ứng phó với rủi ro; tập trung huy động mọi nguồn lực xã hội, khuyến khích mạnh mẽ khu vực tư nhân tham gia phát triển năng lượng; tạo đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng; tăng cường hợp tác quốc tế, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững ngành năng lượng và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Để phát triển nguồn cung và hạ tầng năng lượng, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng, Chính phủ yêu cầu các cơ quan chức năng liên quan phải xây dựng kịch bản, lộ trình thực hiện cụ thể bảo đảm năng lượng đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; đa dạng hóa nguồn cung năng lượng; có cơ chế ưu tiên cho việc chủ động phát triển năng lượng trong nước, giảm phụ thuộc nhập khẩu, ưu tiên tăng cường khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng trong nước; triển khai xây dựng và hình thành Trung tâm công nghiệp năng lượng quốc gia tích hợp khí, khí hóa lỏng, điện, lọc, hóa dầu, năng lượng tái tạo tại các địa phương có lợi thế, đồng bộ với chính sách về khai thác, bao tiêu sản lượng, giá khí tự nhiên trong nước.
Tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án năng lượng trọng điểm; tăng cường dự trữ năng lượng chiến lược, lưu trữ năng lượng; xây dựng ngành năng lượng và phát triển công nghiệp sản xuất thiết bị năng lượng; phát triển hạ tầng năng lượng hiện đại, thông minh, bền vững, kết nối khu vực và quốc tế hiệu quả.
Thông tin cơ bản
Trước đó, ngày 20/8/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 70 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030: Tổng cung năng lượng sơ cấp khoảng 150 – 170 triệu tấn dầu quy đổi; tổng công suất các nguồn điện khoảng 183 – 236 GW hoặc có thể cao hơn tùy thuộc vào nhu cầu hệ thống và tình hình phát triển kinh tế – xã hội theo thời kỳ; tổng sản lượng điện khoảng 560 – 624 tỉ KWh. Tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp khoảng 25 – 30%.
Tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng khoảng 120 – 130 triệu tấn dầu quy đổi. Hệ thống điện thông minh, hiệu quả, có khả năng kết nối an toàn với lưới điện khu vực; bảo đảm cung cấp điện an toàn, đáp ứng tiêu chí N-1 đối với vùng phụ tải quan trọng và N-2 đối với vùng phụ tải đặc biệt quan trọng. Độ tin cậy cung cấp điện năng và chỉ số tiếp cận điện năng thuộc tốp 3 nước dẫn đầu ASEAN Các cơ sở lọc dầu đáp ứng tối thiểu 70% nhu cầu xăng dầu trong nước; mức dự trữ xăng dầu đạt khoảng 90 ngày nhập ròng.
Phát triển cơ sở đầy đủ năng lực nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) theo nhu cầu cấp cho các nguồn điện khí LNG và các nhu cầu khác; hình thành các trung tâm năng lượng tập trung khí LNG hài hòa các vùng miền. Tỷ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng so với kịch bản phát triển bình thường khoảng 8 – 10%. Giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng so với kịch bản phát triển bình thường khoảng 15 – 35%.
Tầm nhìn đến năm 2045: Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia; thị trường năng lượng cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, minh bạch, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; ngành năng lượng phát triển đồng bộ, bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu; hệ thống hạ tầng năng lượng thông minh, hiện đại, kết nối hiệu quả với khu vực và quốc tế; chất lượng nguồn nhân lực, trình độ khoa học – công nghệ và năng lực quản trị ngành năng lượng đạt trình độ ngang với các nước công nghiệp phát triển hiện đại.
Diệu Thanh
Doanh nghiệp sản xuất xanh