;

Nông nghiệp sinh thái kiến tạo các giá trị mới.

Giai đoạn 2021-2025 vừa khép lại đã đánh dấu một bước chuyển mình lịch sử mới, Việt Nam không còn coi nông nghiệp sinh thái là những “thí nghiệm nhỏ” mà đã biến nó thành một chiến lược quốc gia.

13/1/2026

Trong giai đoạn 2021-2025, Việt Nam đã triển khai hơn 200 mô hình nông nghiệp sinh thái với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) cùng nhiều đối tác phát triển khác.

Các mô hình lúa – tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long; Lúa – sen tại vùng trũng; Nông lâm kết hợp ở trung du và miền núi, đến các Sáng kiến bảo tồn đa dạng sinh học và các mô hình thích ứng dựa vào thiên nhiên….đang hình thành.

Nông nghiệp sinh thái đang từng bước hình thành một cách rộng rái hơn ở khắp các vùng miền. Những hướng đi mới này khiến cho ngành nông nghiệp Việt Nam đang kiến tạo các giá trị mới.

Khi các mô hình riêng lẻ như Lúa – Tôm, Lúa – Sen hay Nông lâm kết hợp bắt đầu kết nối lại với nhau, chúng không chỉ là những bài toán sinh kế đơn thuần mà là những “mảnh ghép” của một hệ sinh thái kinh tế bền vững và lớn hơn mỗi ngày.

Thay vì “chống lại” thiên nhiên (như ngăn mặn, đắp đập), nông nghiệp sinh thái đang chọn cách “thuận thiên” một cách bền vững hơn rất nhiều.

Mô hình Lúa – Tôm (ĐBSCL) đã và đang tận dụng xâm nhập mặn để nuôi tôm, sau đó dùng nước ngọt mùa mưa để trồng lúa. Đây là cách biến “thách thức” biến đổi khí hậu thành “cơ hội” kinh tế rất tốt.

Mô hình Lúa – Sencũng đang chuyển đổi từ độc canh cây lúa sang mô hình kết hợp tại vùng trũng, vừa giảm phân bón hóa học, vừa tạo ra sản phẩm giá trị cao từ sen (trà, thực phẩm, dược liệu) đi cùng nhau.

Lúa giảm phát thải, (nguồn hình VGP)

Nông nghiệp sinh thái đang giúp phục hồi sức khỏe của đất và đa dạng sinh học. Điều này tạo ra một loại tài sản mới cho Nông nghiệp Việt Nam, mà chúng ta gọi là Vốn tự nhiên và là “của trời cho”.

Trong tương lai gần, một trang trại nông lâm kết hợp không chỉ được định giá bằng số cây gỗ hay sản lượng ra trái hàng năm mà còn bằng khả năng hấp thụ Carbon và độ phì nhiêu của đất. Đây chính là nguồn cung cấp tín chỉ Carbon ổn định nhất để Việt Nam tham gia vào thị trường hạn ngạch phát thải từ năm 2028 trở đi.

Các mô hình lúa phát thải thấp (như Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao) sử dụng kỹ thuật tưới khô xen kẽ giúp giảm mạnh khí Metan. Và lượng phát thải cắt giảm được sẽ được số hóa thành tín chỉ carbon.

Trong tương lai, nông dân không chỉ thu tiền từ bán lúa, mà còn nhận được tiền từ việc bán “quyền phát thải” cho các doanh nghiệp đang thiếu hạn ngạch, cần mua, khi sàn giao dịch các bon được thiết lập trong nước và có khả năng liên thông với thị trường quốc tế.

Nếu 5 năm trước nông nghiệp sinh thái mới chỉ là “lựa chọn thêm”, thì 5 năm tới (đến 2030) nó là “điều kiện sống còn” để phát triển thị trường bền vững. Đặc biệt nó còn là “tấm hộ chiếu xanh” cho các đơn vị xuất khẩu.

Sự hỗ trợ của FAO và UNDP không chỉ là tiền, mà là họ còn đang cung cấp phương pháp luận và tiêu chuẩn quốc tế để nông sản Việt có “hộ chiếu xanh” đi khắp thế giới.

Năm 2026 cũng đang được FAO chọn là “Năm quốc tế Phụ nữ làm nông nghiệp”. Đây là sự thừa nhận mang tính toàn cầu rằng, phụ nữ chính là “xương sống” của an ninh lương thực và là những người tiên phong trong nông nghiệp sinh thái.

Việt Nam đang được thế giới xem là hình mẫu dẫn đầu trong việc trao quyền cho phụ nữ và thanh niên nông thôn áp dụng công nghệ số vào nông nghiệp sinh thái và có khả năng hội nhập sâu rộng trong kinh tế toàn cầu.

Trong đó, Nông nghiệp sẽ là một “ngành dịch vụ” cao cấp mới, có ảnh hưởng đến các thị trường sản phẩm chung. Hướng đi mới này cũng đang làm mờ ranh giới giữa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Và các tiến bộ trong ngành sản xuất xanh, gắn với nông nghiệp chắc chắn sẽ còn mở rộng hơn bao giờ hết.

Các sáng kiến bảo tồn đa dạng sinh học (như bảo tồn giống lúa cổ, canh tác dưới tán rừng) cũng giúp cho nông sản Việt Nam thoát khỏi cái bẫy “giá rẻ”.

Đặc biệt, khi mà thế giới ngày càng khắt khe với các sản phẩm gây mất rừng hoặc ô nhiễm, nông nghiệp sinh thái chính là tấm hộ chiếu để Việt Nam tự tin đàm phán trên các sân chơi quốc tế lớn, trên toàn cầu.

Và khi Nông nghiệp đang bước vào cùng lúc hai mặt của một quá trình hiện đại hóa, trong đó có quá trình phát triển kinh tế xanh đi cùng với kinh tế số.

Và lúc này, Nông nghiệp sinh thái tạo ra sản phẩm xanh và Dữ liệu cũng giúp nông dân “số hóa” thành tựu và kết quả của mình, để nâng tầm giá trị xanh đó thành các lợi ích kinh tế có thể đo lường được thành kết quả cụ thể.

Và khi hai yếu tố này gặp nhau, Việt Nam sẽ không chỉ là “bếp ăn” hay “công xưởng của thế giới” nữa mà còn là một hình mẫu về kinh tế xanh và kinh tế số đi cùng nhau. Đồng thời sẽ là hình mẫu cho các quốc gia đang phát triển cùng học tập và hòa vào dòng chảy chung của thời đạị xanh hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên khắp thế giới.

Thuận An

Xem thêm

Đồng Tháp: Xây dựng “hộ chiếu” cho nông sản.

Với vị thế là địa phương dẫn đầu cả nước về mã số vùng trồng …

;