Mô hình nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng ngập mặn đang tập trung chủ yếu tại Cà Mau. Đây là một mô hình vô cùng quan trọng và nổi bật, thể hiện rõ nhất sự hài hòa giữa kinh tế và môi trường trong ngành thủy sản Việt Nam.
11/12/2025
Tôm rừng ngập mặn Cà Mau, (hình vasep)
Mô hình nuôi tôm sinh thái là sự kết hợp nuôi tôm trong diện tích mặt nước nằm xen kẽ hoặc dưới tán rừng ngập mặn, tạo ra một hệ sinh thái cộng sinh bền vững.
Quy tắc chuẩn cho mô hình nuôi tôm sinh thái
Thứ nhất là, Quy tắc 60/40 hoặc 50/50 là qui chuẩn để được công nhận là mô hình sinh thái.
Để đạt các chứng nhận quốc tế, người nuôi phải đảm bảo tỷ lệ ít nhất 50% đến 60% diện tích là rừng ngập mặn (như đước, sú, vẹt). Phần còn lại (40-50%) là diện tích mặt nước để nuôi tôm.
Thứ hai là, không hóa chất, không kháng sinh. Tôm nuôi hoàn toàn dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên (các vi sinh vật, phù du) được tạo ra từ lá và rễ cây rừng ngập mặn phân hủy. Điều này giúp tôm lớn lên khỏe mạnh, có đặc điểm gần giống tôm trong tự nhiên và có giá trị dinh dưỡng thuần rừng ngập mặn.

Cà Mau là vùng nuôi tôm sinh thái lớn nhất nước.
Cà Mau có khoảng 27.577 ha diện tích nuôi tôm kết hợp với rừng ngập mặn (mô hình tôm – rừng) và đang hướng đến chuyển đổi khoảng 30.000 ha sang nuôi tôm sinh thái/hữu cơ.
Trong đó, Cà Mau là nơi có gần 11.500 ha tôm – rừng đạt các chứng nhận quốc tế uy tín như ASC Group và Naturland (thông qua sự hỗ trợ của các doanh nghiệp như Minh Phú và các dự án quốc tế).
Với các vùng nuôi tôm trọng diểm như Ngọc Hiển. Đây là “trái tim” của mô hình, nơi có diện tích nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng ngập mặn lớn nhất tỉnh. Ngọc Hiển đã phát triển hơn 19.400 ha tôm – rừng.
Các điểm khác như Năm Căn, Đầm Dơi, Phú Tân thì cũng là nơi có diện tích rừng ngập mặn lớn, phát triển mạnh mô hình tôm – rừng và đang tích cực mở rộng vùng nuôi tôm đạt chuẩn, dành cho xuất khẩu.
Ngoài Cà Mau thì tại Đồng bằng sông Cửu Long còn có Trà Vinh, Bến Tre, Kiên Giang đang tiếp tục phát triển vùng nuôi tôm sinh thái rộng lớn. Tận dụng các khu vực rừng ngập mặn ở các địa phương này.
Đây là những khu vực đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng thương hiệu hải sản bền vững cho Việt Nam trên thị trường thế giới, đặc biệt là tôm sinh thái.
Mang nhiều lợi ích cho môi trường
Mô hình tôm – rừng mang lại lợi ích toàn diện (lợi ích kép) rất lớn cho các địa phương, không gian sinh tồn của nhiều loài động vật khác.
Trước hết là tính xanh, khi việc nuôi tôm có khả năng hấp thụ CO2 lớn, lớn gấp nhiều lần so với rừng trên cạn.
Mô hình tôm – rừng được tính toán là có thể giảm phát thải đáng kể và phù hợp với mục tiêu tăng trưởng xanh và cam kết Net Zero của Việt Nam.Có khả năng đóng góp vào mục tiêu Tăng trưởng xanh, phù hợp nhu cầu thị trường và xu hướng của thời đại.
Đồng thời góp phần bảo vệ da dạng sinh học. Khi rừng là nơi trú ngụ và sinh sản cho nhiều loài thủy sinh, chim, và côn trùng, duy trì sự cân bằng sinh thái.
Góp phần vào chống biến đổi khí hậu. Do rừng ngập mặn đóng vai trò là tuyến phòng thủ sinh thái tự nhiên, giúp giữ đất, chống sạt lở bờ biển hiệu quả trước sóng biển và triều cường.
Rừng còn là máy lọc sinh học hiệu quả nhất. Với bộ rễ cây rừng giúp lọc sạch chất thải và hấp thụ dinh dưỡng dư thừa. Giữ cho chất lượng nước ao nuôi ổn định, giảm nguy cơ dịch bệnh và xanh hóa quá trình nuôi tôm mang tính tự nhiên.
Mang nhiều lợi ích về kinh tế
Nuôi tôm sinh thái có giá trị cao hơn. Do tôm sinh thái có chứng nhận quốc tế (như ASC, Naturland) được các doanh nghiệp xuất khẩu (như Tập đoàn Minh Phú) bao tiêu đầu ra với giá cao hơn 5 – 10% so với các loại tôm nuôi thông thường khác.
Giúp cho nông hộ có thu nhập ổn định hơn. Người dân có thể đạt lợi nhuận trung bình cao, được cho là ước tình khoảng 80 triệu đồng/ha/năm. Thậm chí làm tốt có thể có giá cao hơn nữa.
Tôm sinh thái còn góp phần thực hiện đa lợi ích khác ngoài thu nhập chung. Người dân không chỉ có thu nhập từ tôm mà còn được chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng (khoảng 250.000 – 500.000 đồng/ha/năm) từ doanh nghiệp hoặc các dự án quốc tế, khuyến khích họ bảo vệ rừng.
Đồng thời làm giảm chi phí nuôi tôm. Do tôm phát triển trong môi trường tự nhiên, người nuôi hầu như không tốn chi phí cho thuốc, hóa chất và các loại thức ăn công nghiệp khác.
Sản phẩm tôm sinh thái Việt Nam đang được coi là “vàng xanh” trên thị trường quốc tế. Nó được bán với giá cao, tạo ra lợi thế cạnh tranh vượt trội và góp phần bảo vệ rừng bền vững. Tuy nhiên việc tuân thủ vô cùng nghiêm ngặt cũng tạo áp lực lớn cho các hộ dân.
Việc tổ chức các hộ nuôi nhỏ lẻ thành nhóm lớn để cùng nhau tuân thủ một bộ quy tắc nghiêm ngặt, duy trì hệ thống ghi chép và kiểm soát chất lượng liên tục trong nhiều năm là việc rất khó. Chỉ có các đơn vị thương mại lớn mới có khả năng tiến hành đồng thời cùng lúc và liên kết các hộ dân trong vùng.
Mặc dù khó nhưng thành quả thì rất xứng đáng, khi tôm xuất khẩu được đánh giá cao trên thị trường quốc tế. Đời sống người dân được nâng cao và duy trì sinh kế bền vững. Đây là một thành quả đáng tự hào của ngành Thủy Hải sản Việt Nam nói chung, nuôi tôm sinh thái nói riêng và được bạn bè quốc tế đánh giá cao.
Thành Phương
Doanh nghiệp sản xuất xanh