Làm mát bền vững không chỉ là giải pháp chống nóng, mà còn là chìa khóa để xây dựng thành phố xanh, thân thiện với khí hậu.
11/9/2025
Hình minh họa, Cần Giờ, TPHCM thành phố xanh trong tương lai, (nguồn hình dttc.sggp.org.vn)
Biến đổi khí hậu đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng, gây ra những tác động không nhỏ đến chất lượng sống của con người, đặc biệt là vấn đề nắng nóng cực đoan.
Báo cáo mới nhất của Tổ chức Khí tượng Thế giới công bố tháng 1/2025 khẳng định năm 2024 là năm nóng nhất trong lịch sử với nhiệt độ cao kỷ lục trên đất liền và đại dương, cùng nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều nền kinh tế.
Tại Việt Nam, nhiều tỉnh, thành phố đã ghi nhận mức nhiệt cao nhất từ trước đến nay. Điển hình như Tương Dương (Nghệ An), Hương Khê (Hà Tĩnh) và TP Đông Hà (Quảng Trị) là ba huyện thị đang nắng nóng nhất cả nước, lúc cao điểm lên 43 đến 44 độ C.
Thêm vào đó, quá trình đô thị hóa nhanh chóng khiến hiệu ứng “đảo nhiệt đô thị” ngày càng nghiêm trọng. mật độ xây dựng lớn, thiếu cây xanh và sử dụng nhiều vật liệu hấp thụ nhiệt khiến cho nền nhiệt tự nhiên tăng cao.
Điều này làm nhu cầu sử dụng thiết bị làm mát tăng mạnh, kéo theo tiêu thụ điện năng trong lĩnh vực làm mát hiện chiếm khoảng 25,2% tổng điện năng quốc gia với hơn 71,4 TWh, dự kiến tăng gấp ba lần vào năm 2050.
Bên cạnh đó, việc sử dụng nhiều môi chất lạnh trong ngành làm mát góp phần làm suy giảm tầng ô-dôn và tăng phát thải khí nhà kính toàn cầu. Việc quản lý phát thải trong lĩnh vực này trở thành yêu cầu cấp thiết đối với Chính phủ Việt Nam trong nỗ lực ứng phó biến đổi khí hậu.
Trong khi nhu cầu làm mát dự đoán tăng đến 34% vào năm 2030. Điều này sẽ làm khó khăn thêm cho mục tiêu giảm phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Việt Nam đã sớm nhận diện vấn đề này như một ưu tiên quốc gia và đưa nó vào Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) từ năm 2022.
Việt Nam cũng đang nỗ lực tìm kiếm các giải pháp làm mát bền vững cho đô thị, vừa giúp giảm chi phí năng lượng, vừa góp phần bảo vệ môi trường và phát triuenr ổn định, bền vững.
Thực tế là biến đổi khí hậu không chỉ làm tăng nhiệt độ toàn cầu mà còn dẫn đến những hiện tượng thời tiết cực đoan, như các đợt nắng nóng kéo dài. Việc giảm phát thải khí nhà kính và xây dựng các giải pháp làm mát bền vững cũng được đặt ra như các vấn đề cấp bách khác.
Chính phủ đã tham gia Cam kết Làm mát toàn cầu, đặt mục tiêu giảm ít nhất 68% lượng phát thải từ các hoạt động làm mát vào năm 2050 so với năm 2022.
Các chính sách như Quyết định 496/QĐ-TTg và Nghị định 119/2025/NĐ-CP đã được ban hành, mở đường cho các giải pháp làm mát thân thiện với khí hậu trong tương lai.
Cục Biến đổi khí hậu cũng đang hợp tác chặt chẽ với các đối tác quốc tế như ETP, Ủy ban Kinh tế xã hội châu Á – Thái Bình Dương Liên hợp quốc (ESCAP) và Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) để xây dựng chương trình NCAP tổng thể và toàn diện hơn.
Chương trình sẽ giúp quản lý hiệu quả các chất theo Nghị định thư Montreal về bảo vệ tầng ô-dôn, thúc đẩy chuyển đổi sang công nghệ làm mát các-bon thấp, tiết kiệm năng lượng, góp phần đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc lộ trình loại trừ HCFC, nhóm chất làm suy giảm tầng ô-dôn được sử dụng trong ngành làm lạnh và bắt đầu quản lý các chất HFC từ năm 2024. Cơ sở sản xuất và sử dụng thiết bị chứa các chất kiểm soát này phải xây dựng kế hoạch chuyển đổi, thu gom, vận chuyển, tái chế và tiêu hủy theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Cụ thể, từ năm 2022, Cục Biến đổi khí hậu đã phối hợp với UNEP và GGGI triển khai các mô hình làm mát tại một số đô thị thí điểm như Cần Thơ, Đà Nẵng và Quảng Trị. Những dự án này không chỉ giúp xây dựng các kế hoạch hành động làm mát đô thị (UCAP), mà còn cung cấp những phân tích kỹ thuật và chính sách, tạo cơ sở cho việc nhân rộng mô hình trên toàn quốc.
Các mô hình thí điểm đã giúp các địa phương thấu hiểu rõ hơn về những thách thức và cơ hội trong việc áp dụng các giải pháp làm mát bền vững.
Tính từ khi tham gia Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal vào năm 1994, Việt Nam đã loại trừ thành công 220 triệu tấn CO2 tương đương nhờ các hoạt động quản lý chất làm suy giảm tầng ô-dôn, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao về trách nhiệm và nỗ lực trong việc tham gia các vấn đề quốc tế.
Việt Nam cũng tích cực tham gia các sáng kiến toàn cầu như Liên minh Tăng cường hiệu quả làm mát của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc và Sáng kiến quản lý vòng đời các chất Fluorocarbon của Nhật Bản với mục tiêu giảm phát thải toàn cầu từ hoạt động làm mát ít nhất 68% vào năm 2050.
Việt Nam cam kết không sản xuất, nhập khẩu hay tiêu thụ các chất cấm và sản phẩm chứa chất này.
Hoàn tất loại trừ HCFC vào năm 2040 và giảm tiêu thụ HFC lên đến 80% vào năm 2045. Các doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi công nghệ bảo vệ tầng ô-dôn cũng sẽ được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ tài chính phù hợp.
Quản lý môi chất lạnh theo chuỗi vòng đời, từ sản xuất, sử dụng đến thu hồi và tái chế được coi là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giảm thiểu tác động môi trường. Các doanh nghiệp được khuyến khích thu hồi và tái chế chất làm lạnh khi thiết bị hết hạn sử dụng, tránh rò rỉ ra môi trường, đồng thời chuyển đổi sang các loại môi chất thân thiện hơn.
Việc thúc đẩy áp dụng công nghệ xanh và quản lý môi chất lạnh được hỗ trợ mạnh mẽ bởi các chính sách quốc gia và cam kết quốc tế. Các kế hoạch quốc gia về quản lý và loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô-zôn cũng đã được Thủ tướng phê duyệt vào tháng 6/2024, đánh dấu bước tiến quan trọng trong chiến lược bảo vệ môi trường chung của Việt Nam và thề hiện trách nhiệm chung trong các vấn đề quốc tế.
Hoàng Thành t/h
Doanh nghiệp sản xuất xanh