;

Diễn đàn “Sức khoẻ đất trồng lúa – Nền tảng phát triển xanh và bền vững”

Hiểu rõ sức khỏe của đất để nuôi dưỡng đất đúng cách, tạo điều kiện cho việc phát triển sản xuất xanh và bền vững và đây là thông điệp của tọa đàm trong Diễn đàn “Sức khoẻ đất trồng lúa – Nền tảng phát triển xanh và bền vững” do Viện Thổ nhưỡng Nông hóa phối hợp với Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam và Báo Nông nghiệp Môi trường tổ chức sáng 29/10.

30/10/2025

Theo ông Vũ Năng Dũng – Chủ tịch Hội Khoa học đất Việt Nam, lúa là cây trồng quan trọng hàng đầu của ngành nông nghiệp nước ta, luôn chiếm diện tích lớn nhất trong đất sản xuất nông nghiệp.

Năm 2023, diện tích đất canh tác lúa chiếm 33,7% diện tích đất canh tác. Sản xuất lúa gạo gắn với đời sống và việc làm của 61,9% dân số ở nông thôn.

Nhưng sau thời gian dài sản xuất, nhiều diện tích đất lúa đang bị suy thoái cả về lí tính, hóa tính và vi sinh vật trong đất, phần nào ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng lúa gạo.

Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, đồng ruộng và nguồn đất nước đang chịu tác động của biến đổi khí hậu lớn với nhiều thách thức cần phải vượt qua như chống xâm nhập mặn, lũ lụt, sạt lở đất, khô hạn; canh tác lúa còn lạm dụng phân vô cơ, ít phân bón hữu cơ, sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng chủ lực về trồng lúa. Toàn vùng rộng khoảng 3,96 triệu ha, trong đó khoảng 2,6 triệu ha được sử dụng để phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản chiếm 65%. Trong đó, đất trồng cây hằng năm chiếm trên 50%, chủ yếu đất lúa trên 90%.

Tổng lượng phù sa chảy vào ĐBSCL đã giảm tới 55% trong 25 năm qua, trong khi diện tích đất phèn và đất mặn biến động mạnh, tính chất đất mặt phù sa trồng lúa cũng thay đổi. Nhiều khu vực đối mặt với các vấn đề như rửa trôi, xói mòn, ngập lũ, nhiễm mặn, nhiễm phèn, bạc màu, ô nhiễm và hoang hóa.

Để giải quyết các thách thức từ đất trồng đối với sản xuất, các chuyên gia cho rằng cần xây dựng các mô hình canh tác thích hợp, có hiệu quả kinh tế cao cho các vùng nhiễm mặn, phèn, trước hết cần thiết kế đồng ruộng và kỹ thuật làm đất.

Nếu canh tác lúa thì có kênh mương xả phèn, nên chọn các giống lúa kháng phèn hoặc mặn. Đây là giải pháp đơn giản và kinh tế, đồng thời xác định mô hình canh tác kết hợp có hiệu quả nhất.

Đối với đất mặn, các mô hình canh tác như nuôi trồng thủy sản (quảng canh), Tôm lúa, lúa – cá và hệ thống rừng ngập mặn…

Về lâu dài, cần thay đổi tư duy sản xuất, hướng tới canh tác bền vững, sử dụng hợp lý vật tư nông nghiệp, áp dụng các biện pháp cải tạo và phục hồi độ phì nhiêu của đất. “Giống như con người muốn khỏe, đất cũng cần được hiểu rõ tình trạng sức khỏe để ‘bồi bổ’ đúng cách” – Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Trần Minh Tiến ví von.

Theo đó, cần áp dụng giải pháp đồng bộ theo từng loại đất.

Với đất mặn, giải pháp bao gồm quản lý nước hợp lý, bón phân cân đối, tận dụng rơm rạ, sử dụng giống chịu mặn và luân canh cây trồng.

Đất phèn cần bổ sung vôi, kết hợp quản lý nước và bón hợp lý, cân đối phân hữu cơ – vô cơ.

Đất phù sa và đất xám bạc màu được cải tạo bằng quản lý nước, bón phân cân đối, tái sử dụng rơm rạ và luân canh cây trồng. Quản lý chất lượng đất và hướng dẫn sử dụng phân bón trực tuyến cũng cần áp dụng mạnh mẽ.

Hiểu rõ sức khỏe của đất để nuôi dưỡng đất đúng cách là tạo điều kiện cho việc phát triển sản xuất xanh và bền vững. Đây đang là và sẽ là nhiệm vụ cơ bản và lâu dài của nền nông nghiệp. Đòi hỏi phát triển phải đi đôi với bền vững và việc hiểu đất, ứng dụng đất tốt, chính là bước đầu tiên trong hành trình phát triển xanh của nền nông nghiệp Việt Nam.

Thuận An

Xem thêm

Đồng Tháp: Xây dựng “hộ chiếu” cho nông sản.

Với vị thế là địa phương dẫn đầu cả nước về mã số vùng trồng …

;