;

Tiềm năng lớn của lúa gạo Zero carbon Việt Nam

Zero carbon đang trở thành tiêu chuẩn mới trong ngành lúa gạo toàn cầu. Các thị trường xuất khẩu lớn đều đang có yêu cầu siết chặt các tiêu chí nhập khẩu. Việc giảm phát thải trong sản xuất lúa đang trở thành yếu tố quan trọng để Việt Nam giữ vững vị thế và gia tăng giá trị lúa gạo Việt trên thị trường quốc tế.

29/7/2025

Lúa phát thải thấp, nguồn hình VGP

“Lúa gạo zero carbon” hay lúa gạo không phát thải ròng là một tiêu chuẩn mới trong ngành lúa gạo toàn cầu. Trong đó tập trung vào việc giảm thiểu tối đa lượng khí thải nhà kính (chủ yếu là khí Methane – CH₄) phát sinh từ quá trình canh tác lúa, tiến tới cân bằng lượng khí thải và lượng khí được hấp thụ.

Đây là một xu thế tất yếu khi các thị trường xuất khẩu lớn đang ngày càng siết chặt các yêu cầu về môi trường. Các cam kết Net Zero 2050 đã và đang trở thành yêu cầu với nhiều ngành sản xuất, không riêng gì ngành nông nghiệp.

Liên minh châu Âu, với Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) cũng có hiệu lực đầy đủ từ năm 2026, đang tạo ra làn sóng lan tỏa toàn cầu.

Mặc dù CBAM hiện chưa bao gồm trực tiếp các sản phẩm nông nghiệp. Nhưng việc áp dụng các tiêu chuẩn này trong các ngành sản xuất nông nghiệp chắc chắn chỉ còn là vấn đề thời gian.

Việc canh tác lúa truyền thống thường đòi hỏi ruộng lúa phải ngập nước liên tục. Điều kiện thiếu oxy trong đất ngập nước tạo môi trường lý tưởng cho các vi khuẩn phân hủy chất hữu cơ, từ đó giải phóng một lượng lớn khí Methane.

Methane là một loại khí nhà kính có khả năng gây hiệu ứng nóng lên toàn cầu cao gấp nhiều lần so với CO₂ trong một khoảng thời gian nhất định.

Vì thế thực hiện các biện pháp canh tác lúa gạo hướng tới zero carbon trong sản xuất lúa gạo đang được đặt ra và đang thực hiện bằng nhiều phương pháp và kỹ thuật tiên tiến. Nhằm nâng cao thương hiệu của ngành sản xuất xanh trong ngành nông nghiệp và thực hiện sản xuất có trách nhiệm.

Hiện nay trông lúa Zero carbon đang thực hiện theo các biện pháp như sau:

Tháo nước làm ruộng canh tác khô ướt xen kẽ

Đây là một trong những phương pháp hiệu quả nhất. Thay vì giữ ruộng ngập nước liên tục như hiện nay, nông dân sẽ luân phiên làm khô và làm ướt ruộng. Cho nước vào để trồng lúa và tháo nước ra để phơi ruộng, trước khi đem vào sản xuất vụ mới. Điều này giúp giảm đáng kể lượng khí Methane phát thải mà vẫn đảm bảo năng suất và chất lượng hạt lúa.

Quản lý rơm rạ và phụ phẩm nông nghiệp hiệu quả

Thay vì đốt rơm rạ sau thu hoạch, gây ra phát thải CO₂ và các chất ô nhiễm khác vào không khí. Nay rơm rạ sau thu hoạch có thể được vùi vào đất làm phân xanh, ủ phân hữu cơ hoặc sử dụng cho các mục đích khác như sản xuất nấm, thức ăn gia súc hay đưa vào sản xuất cho các ngành sản xuất khác có nhu cầu.

Giảm lượng giống gieo sạ và phân bón hóa học

Giảm mật độ gieo sạ cũng giúp cây lúa phát triển tốt hơn, sử dụng ít tài nguyên hơn. Việc áp dụng phân bón hữu cơ hoặc quản lý dinh dưỡng tổng hợp giúp giảm sự phụ thuộc vào phân bón hóa học, vốn có thể góp phần vào phát thải khí nhà kính.

Sử dụng giống lúa ngắn ngày và ít phát thải

Việc nghiên cứu và phát triển các giống lúa có chu kỳ sinh trưởng ngắn ngày hơn hơn cũng giúp giảm thời gian ngập nước và giảm phát thải Methane đáng kể. Đây cũng có thể là biện pháp giúp cho ngành sản xuất lúa gạo đi vào hướng Zero carbon

Áp dụng công nghệ số

Việc sử dụng công nghệ cao vào canh tác cũng có thể giúp cho việc sản xuất thuận lợi hơn. Ví dụ như dùng cảm biến IoT, hình ảnh vệ tinh để theo dõi và quản lý ruộng lúa, tối ưu hóa việc sử dụng nước, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, từ đó giảm phát thải một cách hiệu quả.

Canh tác bảo tồn

Đây cũng là biện pháp làm giảm đáng kể việc xáo trộn đất giúp duy trì cấu trúc đất, tăng cường chất hữu cơ và khả năng hấp thụ carbon của đất. Đây là hình thức canh tác bảo tồn và nuôi dưỡng nguồn đất trồng cho tốt, lâu dài.

Tích hợp hệ thống nông lâm kết hợp

Việc trồng cây thân gỗ xen kẽ hoặc xung quanh ruộng lúa cũng có thể giúp hấp thụ carbon trong không khí tốt hơn, hiệu quả hơn.

Tiềm năng của ngành lúa gạo zero carbon

Theo Công ty cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An thì lô gạo 500 tấn đầu tiên được bán cho thị trường Nhật Bản với giá 820 đô la Mỹ/tấn tại kho của đơn vị này ở quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. “Nếu tính giá FOB tại cảng TPHCM là 850 đô la Mỹ/tấn, tương đương hơn 1.000 đô la Mỹ/tấn nếu tính theo giá CIF” đại diện công ty cho biết.

Như vậy gạo đạt chứng nhận phát thải thấp được Nhật Bản định giá hơn 1.000 đô la Mỹ/tấn, ngang với dòng gạo cao cấp nhất của Thái Lan và cao gấp đôi so với giá gạo thơm đang được doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu. Vì thế gạo zero carbon có tiềm năng rất lớn.

Bên cạnh đó, không chỉ về lợi ích doanh thu thực tế mà còn có lợi ích kép về môi trường rất lớn. Góp phần giúp ngành lúa gạo phát triển ổn định và bền vững hơn rất nhiều.

Theo nghiên cứu trên Rice-based production systems năm 2023, cường độ phát thải trung bình trong canh tác lúa nguyên vỏ trên toàn cầu được ước tính dao động từ 0.9 đến 1.46 kilôgam khí nhà kính quy đổi CO₂ trên mỗi kilôgam lúa.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam với mức phát thải khoảng 1.04 kg CO₂ trên mỗi kg lúa tẻ đang nằm ở ngưỡng trung bình toàn cầu, song vẫn cao hơn đáng kể so với Thái Lan đang quốc gia đã triển khai chương trình lúa carbon thấp quy mô lớn và đạt tổng mức cắt giảm 1.87 triệu tấn CO₂ tương đương trong giai đoạn từ năm 2018 đến 2024.

Tại Việt Nam, chương trình “Phát triển bền vững một triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp” cũng đã được Thủ tướng phê duyệt cuối năm 2023. Trong đó đặt mục tiêu chuyển đổi 1 triệu hecta tại Đồng bằng sông Cửu Long theo hướng giảm phát thải hơn 10% và tăng giá trị gia tăng 40 %.

Sau một năm triển khai, 12 tỉnh thành ĐBSCL đã đăng ký 312,743ha cho năm 2025, vượt 73% so với mục tiêu ban đầu (180,000ha).

Đồng thời, các kết quả đo lường và hệ thống giám sát, báo cáo và xác minh (MRV) carbon cho lúa cũng đang được hoàn thiện. Việt Nam cũng đang xây dựng Hướng dẫn MRV quốc gia cho ngành lúa, do UNDP hỗ trợ kỹ thuật.

Mặc dù hiện tại diện tích áp dụng các kỹ thuật canh tác lúa giảm phát thải vẫn còn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích trồng lúa cả nước, nhưng các kết quả thí điểm đã cho thấy tiềm năng rất lớn nếu được mở rộng trên toàn quốc và khi các địa phương thực sự đẩy mạnh.

Việt Nam với vị thế là nước xuất khẩu gạo lớn thứ ba thế giới, đạt khoảng 9 triệu tấn và giá trị hơn 5.7 tỷ USD trong năm 2024, ngành sản xuất lúa gạo cần được chú trọng để làm tốt các yêu cầu này và càng sớm càng tốt. Nhằm giữ được vị thế cho ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam trong các năm tiếp theo.

Nếu thành công chuyển đổi sang mô hình canh tác phát thải thấp, Việt Nam hoàn toàn có thể lợi thế cạnh tranh bền vững trên thị trường lúa gạo quốc tế. Đồng thời nâng cao giá trị thương hiệu lúa gạo quốc gia trên các thị trường nhập khẩu có yêu cầu cao về môi trường, chất lượng.

Chiến lược Tăng trưởng Xanh Quốc gia 2021-2030 đặt mục tiêu giảm cường độ phát thải per GDP 15% đến 2030 và 30% đến 2050. Trong bối cảnh đó, lúa gạo carbon thấp sẽ trở thành trụ cột quan trọng của chuyển đổi xanh trong tương lai gần.

Việc tích hợp vào chuỗi giá trị bền vững và mở ra không gian tài chính đi vào vì thế chắc chắn cũng sẽ được phát huy tác dụng. Nâng cao tiêu chuẩn ngành nông nghiệp, bao gồm trong đó có cả việc sản xuất lúa gạo và nhận chứng nhận green bonds.

Điều này cho phép các doanh nghiệp chế biến gạo Việt Nam có điều kiện tiếp cận với thị trường trái phiếu xanh ước tính 125,000 tỷ USD toàn cầu.

Hiện tổ chức FAO và Agribank cũng đã bắt đầu khảo sát khả năng phát hành green bond đầu tiên cho nông nghiệp Việt Nam và sẽ tập trung trước vào Chương trình 1 triệu hecta đầu tiên.

Bên cạnh đó, một loạt các ngân hàng Việt Nam cũng đang có các khoản định danh là tài chính xanh dành cho các hoạt động sản xuất lúa gạo Zero carbon.

Nếu thành công chuyển đổi 1 triệu hecta, Việt Nam đang tạo thêm giá trị 21,000 tỷ đồng/năm (840 triệu USD). Trong đó bao gồm việc giảm chi phí sản xuất 9, 500 tỷ đồng, tăng giá sản phẩm 7,000 tỷ đồng và bán carbon credits 2,500 tỷ đồng.

Quan trọng hơn là vị thế tiên phong trong việc sản xuất lúa gạo Zero carbon sẽ giúp Việt Nam định hình tiêu chuẩn lúa gạo carbon thấp mang tính toàn cầu. Từ đó nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam trên trường quốc tế và mở ra cánh cửa phát triển mới, với năng lực lớn hơn rất nhiều.

Hiện rất nhiều các hiệp định song phương thế hệ mới của Việt Nam đã kí với nhiều quốc gia và nếu lúa gạo Zero carbon được phát huy tác dụng tốt. Ngành lúa gạo Việt sẽ có tiềm năng mở rộng rất lớn trong tương lai, khi nền kinh tế xanh đang ngày càng định vị cao trên toàn cầu.

Diệu Thanh

Xem thêm

Đồng Tháp: Xây dựng “hộ chiếu” cho nông sản.

Với vị thế là địa phương dẫn đầu cả nước về mã số vùng trồng …

;