;

Xuất khẩu phải tuân thủ tiêu chuẩn xanh

Các thị trường nhập khẩu chủ lực đồng loạt siết chặt tiêu chuẩn xanh, xuất khẩu Việt Nam đối diện lựa chọn then chốt, hoặc chuyển đổi kép (chuyển đổi xanh và chuyển đổi số) để đáp ứng với luật chơi mới; hoặc chấp nhận nguy cơ bị gạt khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây là xu hướng quyết định cho tương lai.

6/1/2025

Luật chơi xanh mới 

Các thị trường lớn (đặc biệt là EU) sẽ áp dụng các quy định khắt khe từ ngày 01/01/2026 như sau.

Cơ chế CBAM, trong đó thu phí phát thải carbon với các ngành sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón.

Quy định EUDR với các yêu cầu dữ liệu GPS chứng minh sản phẩm (gỗ, cà phê, cao su) không gây phá rừng.

Tiêu chuẩn xanh không còn là “điểm cộng” mà là điều kiện bắt buộc để được nhập cuộc trong lĩnh vực xuất nhập khẩu toàn cầu.

Giai đoạn tăng trưởng dựa vào giá rẻ, lao động thấp và tài nguyên thô đang khép lại và nhường chỗ cho những yêu cầu khắt khe về môi trường và trách nhiệm bền vững. Các doanh nghiệp phải kịp thời chuyển mình trong giai đoạn mới và không lựa chọn nào, nếu muốn theo đuổi chiến lược xuất khẩu.

Trong khi các doanh nghiệp buộc phải đáp ứng các tiêu chuẩn như CBAM (Thuế carbon của EU), EUDR (Chống phá rừng), hay chứng chỉ FSC (Gỗ bền vững). Thì trong nước, Việt Nam cũng đang nỗ lực xây dựng bộ Tiêu chuẩn phân loại xanh quốc gia.

Khi bộ tiêu chuẩn này tương thích với quốc tế, doanh nghiệp chỉ cần đạt chuẩn trong nước là mặc nhiên được thừa nhận khi xuất khẩu. Nhưng đây còn là các qui định đang cần thời gian để chuẩn hóa.

Việt Nam cũng theo đuổi các tiêu chuẩn báo cáo bền vững (ESG) theo chuẩn quốc tế.

Điều này giúp các doanh nghiệp SME (nhỏ và vừa) dù ở Việt Nam, có một “ngôn ngữ quản trị” chung với các tập đoàn đa quốc gia và các doanh nghiệp Việt Nam có chuẩn chung theo đuổi các qui định này.

Chiến lược “Chuyển đổi kép” là lối thoát duy nhất

Việt Nam cần kết hợp đồng thời hai quá trình bao gồm.

Chuyển đổi số nhằm minh bạch dữ liệu, truy xuất nguồn gốc (GPS) và đo lường chính xác dấu chân carbon.

Chuyển đổi xanh nhằm giảm phát thải, đạt các chứng chỉ bền vững (FSC/PEFC) và nâng cao giá trị sản phẩm.

Mục tiêu là chuyển từ cạnh tranh bằng “giá rẻ/lao động thấp” sang cạnh tranh bằng “giá trị cao/bền vững” và phát triển lâu dài.

Những rào cản doanh nghiệp Việt.

Dù kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng tốt (762 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm 2025), nhưng doanh nghiệp Việt Nam cũng đang gặp khó nhất định.

Đó là thiếu thước đo chuẩn. Khi chưa có bộ tiêu chuẩn quốc gia thống nhất về trung hòa carbon.

Khoảng cách năng lực giữa khối ngoại và khối nội là rất rõ rệt.

Trong khi khối FDI thích ứng nhanh,còn doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đang trong tình trạng thiếu vốn (65% gặp khó tài chính) và thiếu nhân lực am hiểu ESG (chỉ 12% có đội ngũ chuyên môn). Do đó các rào cản nội tại có nhiếu nhiêu và dàn trải trên nhiều lĩnh vực.

Thêm vào đó, chi phí kiểm kê và đo lường phát thải cao và thiếu đơn vị kiểm kê đạt chuẩn quốc tế. Đây cũng là rào cản khiến tiến trình xanh hóa chậm lại.

Lộ trình chính sách và Thị trường Carbon.

Nhà nước đang đẩy mạnh các công cụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp và doanh nghiệp phải nắm bắt được và đẩy mạnh, cho phù hợp vowiscacs qui chuẩn chung.

Trong đó có một số các chương trình như sau.

Chương trình Go Global 2026–2035. Hỗ trợ doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi giá trị và chuyển đổi xanh.

Thị trường tín chỉ Carbon. Thực hiện vào cuối năm 2026 và đang bắt đầu thí điểmvà chia làm hai giai đoạn.

Giai đoạn 2025–2028 sẽ tiến hành xây dựng hạ tầng kỹ thuật. Giai đoạn từ 2029 sẽ vận hành chính thức và đấu giá hạn ngạch.

Doanh nghiệp giảm phát thải sớm thì có thể bán lại tín chỉ carbon, tạo nguồn thu mới và thu hút vốn quốc tế.

Việt Nam sẽ thí điểm sàn giao dịch tín chỉ carbon vào cuối năm 2026. Tín chỉ carbon tạo ra tại Việt Nam (ví dụ từ việc trồng rừng hay năng lượng tái tạo) phải được các tổ chức quốc tế công nhận và kiểm kê theo tiêu chuẩn toàn cầu (như Gold Standard hay Verra) mới được lên sàn.

Khi đó, doanh nghiệp Việt Nam có thể bán tín chỉ carbon cho các tập đoàn quốc tế đang thiếu hạn ngạch. Ngược lại, các ngân hàng trong nước sẽ dựa trên “tín dụng xanh” quốc tế để cấp vốn ưu đãi cho doanh nghiệp nội địa phát triển ổn định và bền vững hơn.

Tuy vậy, các thị trường nhập khẩu yêu cầu minh bạch về “dấu chân carbon” trên toàn chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp Việt Nam phải dùng công nghệ số (Blockchain, IoT, AI) để ghi lại dữ liệu sản xuất để minh bạch hóa quá trình này.

Đây cũng là điều tốt. Điều này cũng buộc các doanh nghiệp phải thấu hiểu luật chơi quốc tế để hội nhập nhanh hơn và chuẩn hóa sớm.

Trong khi nhà nước cũng đang ra sức nhằm liên thông thị trường giảm phát thải quốc tế với Việt Nam. Vì nếu không có sự liên thông này, doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải chịu “thuế chồng thuế” hoặc tốn chi phí kiểm kê hai lần cho cả mục đích trong nước và quốc tế.

Nhưng bên cạnh đó cũng cần có sự vào cuộc mạnh mẽ của các doanh nghiệp để quá trình chuẩn hóa chính xác nhanh và mạnh mẽ hơn. Tiệm cận thị trường giảm phát quốc tế và phát triển ổn định thị trường các bon ở trong nước.

Dù có những thách thức nhất định. Nhưng tiềm năng của thị trường chứng chỉ carbon Việt Nam rất lớn.

Trên thực tế, các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, nông nghiệp giảm phát thải hay trồng rừng hoàn toàn có thể trở thành nguồn tạo tín chỉ carbon dồi dào.

Nếu các sàn giao dịch số gắn với sản phẩm xanh được hình thành, tín chỉ carbon sẽ trở thành kênh thu hút dòng vốn quốc tế, đồng thời tạo động lực mạnh mẽ cho doanh nghiệp chuyển đổi bền vững và phát triển tốt hơn.

Hồng Thắm. 

Xem thêm

Khoan thư sức dân, nuôi dưỡng nguồn thu: Góc nhìn thực chiến cho cộng đồng doanh nghiệp

Giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động và áp lực chi …

;