;

Xanh hóa môi trường từ sản xuất xi măng: Tận dụng chất thải hiệu quả

Xử lý chất thải được xem là hướng đi xanh cho ngành xi măng Việt Nam, giúp giảm phát thải và tận dụng nguồn rác thải khổng lồ, xanh hóa môi trường từ hoạt động sản xuất xi măng. 

21/10/2025

Đi tiên phong

INSEE Ecocycle và Hòa Bình HTCE (Công ty Cổ phần Môi trường Công nghệ cao Hòa Bình) là hai trong nhiều cái tên đang đi tiên phong cho xu hướng này. Họ đã đóng vai trò then chốt trong việc chứng minh tính khả thi và hiệu quả của giải pháp biến chất thải thành năng lượng/nguyên liệu đốt trong ngành xi măng tại Việt Nam.

INSEE Ecocycle là thương hiệu quản lý chất thải của INSEE Việt Nam (trước đây là Holcim Việt Nam, hiện thuộc Tập đoàn Siam City Cement Public Company Limited).

Hòa Bình HTCE là một doanh nghiệp chuyên môn hóa trong lĩnh vực môi trường, đặc biệt là xử lý chất thải nguy hại và thực hiện kinh tế tuần hoàn, có trụ sở chính tại tỉnh Hòa Bình.

Được biết, thời gian qua cả hai doanh nghiệp này đang có những bước đi ban đầu nhằm hiện thực hóa ý tưởng xanh hóa môi trường, bằng cách thực hiện đốt lò xi măng bằng rác thải.

INSEE Ecocycle, với vai trò là đơn vị quản lý chất thải của INSEE Việt Nam, đã hoạt động tại Việt Nam từ năm 2007. Như vậy, tính đến năm 2025 (thời điểm hiện tại), INSEE Ecocycle đã có hơn 18 năm kinh nghiệm trong việc cung cấp giải pháp đồng xử lý chất thải (Co-processing) trong lò nung xi măng tại Việt Nam.

INSEE Ecocycle được xem là hình mẫu hàng đầu tại Việt Nam, chủ yếu dựa trên công nghệ đồng xử lý (Co-processing) chất thải trong lò nung xi măng và cam kết giảm phát thải carbon toàn diện. Được ghi nhận là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực này, góp phần xử lý an toàn nhiều loại chất thải nguy hại và không nguy hại, biến chúng thành năng lượng và nguyên liệu thay thế cho ngành xi măng thực sự có hiệu quả

Giải pháp của INSEE Ecocycle vừa giải quyết tận gốc bài toán môi trường; vừa đóng góp xanh hóa ngành xi măng Việt Nam. Công ty cũng đang có hơn 330 đối tác tại 34 tỉnh thành, INSEE đã xử lý hơn 1,8 triệu tấn chất thải và giảm phát thải 1,7 triệu tấn CO₂ trong 18 năm qua.

Với Công ty Cổ phần Môi trường Công nghệ cao Hòa Bình (Hòa Bình HTCE) thì đơn vị này được thành lập chính thức vào ngày 22 tháng 01 năm 2016. Tính đến thời điểm hiện tại (năm 2025), công ty đã hoạt động được khoảng 9 năm. Đồng thời Nhà máy xử lý chất thải của công ty (tại Lạc Thủy, Hòa Bình) đi vào hoạt động chính thức và được cấp Giấy phép xử lý chất thải nguy hại lần đầu vào năm 2018, tính đến đã được 7 năm.

Hòa Bình HTCE cũng đang trở thành hình mẫu kết nối ngành xử lý rác với ngành xi măng thông qua nhiên liệu RDF (Refuse Derived Fuel). Với vốn đầu tư 600 tỷ đồng và dây chuyền hiện đại công suất 1,4 triệu tấn/năm. Doanh nghiệp này đang sản xuất viên nhiên liệu RDF từ rác nhựa khó tái chế, đạt nhiệt trị 5.570–7.168 kcal/kg, độ ẩm dưới 10%, hoàn toàn đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật cho lò nung xi măng.

Nhà máy xi măng Insee tại Kiên Giang, nơi đồng xử lý trở thành giải pháp hiệu quả cho sản xuất xi măng

Thực tế ngành

Trong khi đó, ngành xi măng Việt Nam hiện có 61 nhà máy với 87 dây chuyền công nghệ đồng bộ, tổng công suất thiết kế đạt hơn 108 triệu tấn clinker/năm, tương đương khoảng 121 triệu tấn xi măng. Công nghệ sản xuất chủ yếu là lò quay phương pháp khô, sử dụng hệ thống preheater 5 tầng có calciner – tiêu chuẩn công nghệ hiện đại đang phổ biến trong khu vực.

Trong giai đoạn 2019–2024, sản lượng xi măng duy trì mức cao, trung bình hơn 80 triệu tấn/năm, trong đó 20 triệu tấn được xuất khẩu. Ngành tiêu thụ hơn 9–11 triệu tấn than/năm và đang trở thành lĩnh vực có mức phát thải carbon đáng kể.

Vấn đề đặt ra là áp dụng công nghệ mà hai đơn vị trên đã làm thì hoàn toàn có thể tận dụng chất thải làm nguyên – nhiên liệu thay thế trở thành hướng đi tất yếu nhằm giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và giảm phát thải CO₂ là hoàn toàn có thể.

Theo thống kê, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam đạt khoảng 23,3 triệu tấn/năm, tương đương hơn 64.000 tấn/ngày, với nhiệt trị trung bình 1.500–2.000 kcal/kg – tương đương 5,8 đến 7,8 triệu tấn than nếu được tận dụng. Đây là nguồn năng lượng tiềm năng rất lớn cho các lò nung xi măng.

Nhưng thực tế hiện nay cho thấy mới chỉ có 15/61 nhà máy xi măng sử dụng chất thải làm nhiên liệu thay thế, chủ yếu là rác công nghiệp có nhiệt trị trên 3.500 kcal/kg, và tỷ lệ thay thế toàn ngành chỉ đạt 3–4%. Một số đơn vị tiên phong đạt mức 35–45%, nhưng phần lớn vẫn ở quy mô thử nghiệm hoặc gián đoạn.

Việc sử dụng tro, xỉ, bùn thải hay xỉ thép làm nguyên liệu thay thế trong sản xuất clinker cũng còn hạn chế do nguồn nguyên liệu tự nhiên dồi dào và giá rẻ hơn.

Nhưng đã đến lúc chúng ta cần tính đến phương án, các đơn vị sản xuất xi măng cũng cần chia sẻ gánh năng môi trường, bằng cách tiêu thụ một phần các Viên đốt (RDF) và Chất đốt thay thế, như một cách đáng được ghi nhận thực tế.

Các loại rác thải vô cơ, xử lý để tạo thành chất đốt thay thế (thường là Refuse Derived Fuel – RDF) để cung cấp cho các nhà máy công nghiệp xi măng, có thể thay thế than đá. Đây đang là phương án tốt và cần được thúc đẩy sử dụng một phần, như một cách chia sẻ gánh năng môi trường, trước khi tính đến các phương án lớn hơn, rộng hơn, tốn nhiều nguồn lực hơn, nếu đầu tư dự án riêng lẻ trong từng nhà máy.

Trên thực tế, Mục tiêu quốc gia đã được định hướng rất rõ ràng trong Quyết định 1266/QĐ-TTg (2020) là: Đến năm 2025, tối thiểu 20% nguyên liệu trong sản xuất clinker phải là vật liệu tái sử dụng. Đến năm 2030, tỷ lệ nhiên liệu thay thế đạt 15% và hướng tới 30% vào giai đoạn 2031–2050.

Nhưng ngành xi măng Việt Nam vẫn cần khung chính sách, tiêu chuẩn kỹ thuật và cơ chế khuyến khích rõ ràng để đồng xử lý trở thành giải pháp phổ biến, thay vì chỉ dừng lại ở vài mô hình tiên phong như hiện nay mà thôi.

Có thể thấy đồng xử lý không chỉ là giải pháp môi trường, mà còn là chiến lược năng lượng bền vững cho ngành xi măng Việt Nam. Trong đó có sự kết hợp công nghệ tiên tiến, chính sách phù hợp và các hoạt động hợp tác công – tư hiệu quả. Nhằm thúc đẩy các đơn vị hợp tác với nhau và định hình thị trường năng lượng xanh cho ngành xi măng phát triển ổn định và bền vững hơn.

Tận dụng hàng triệu tấn rác thải mỗi năm và giảm phụ thuộc một phần vào than đá. Tiến tới xây dựng một ngành công nghiệp xi măng xanh hơn, bền vững hơn, đi theo hướng phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Đồng thời mở rộng trên qui mô lớn, hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy các xu hướng xanh hiệu quả, ăn sâu vào tư duy, nhận thức toàn ngành, Biến thành hành động thực tế, góp phần thúc đẩy xanh hóa hiệu quả hơn trong ngành sản xuất xi măng Việt Nam.

Hoàng Thành

Xem thêm

Khoan thư sức dân, nuôi dưỡng nguồn thu: Góc nhìn thực chiến cho cộng đồng doanh nghiệp

Giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động và áp lực chi …

;