Hướng tới nền nông nghiệp thông minh, tiết kiệm chi phí, giảm ô nhiễm môi trường và gia tăng giá trị, nhiều chủ cơ sở chăn nuôi, trồng trọt đã quan tâm đầu tư thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm tự động hóa trong từng khâu hoặc toàn bộ quy trình sản xuất.
19/5/2025
Một người làm nhiều việc
Trung tâm Gà giống gốc Dabaco Yên Thế thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên gà giống Dabaco có trụ sở tại xã Tam Tiến (Yên Thế – Bắc Giang) là một trong những cơ sở chăn nuôi tiên phong triển khai tự động hóa quy trình sản xuất. Trên diện tích rộng hơn 5 ha, Trung tâm có 7 dãy chuồng trại chăn nuôi khép kín được thiết kế khoa học; môi trường nơi đây luôn sạch sẽ, thoáng mát.
Ông Bạch Trọng Tọa, Giám đốc Trung tâm cho biết: “Trong quá trình chăn nuôi, áp dụng quy trình tự động hóa, một người có thể làm nhiều việc cùng lúc mà vẫn tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, hạn chế dịch bệnh”. Được biết, mỗi năm Trung tâm nuôi khoảng 2 triệu con gà mái đẻ trứng thương phẩm và 400 nghìn gà bố mẹ nhưng chỉ cần 25 cán bộ, công nhân kỹ thuật sản xuất trực tiếp, bởi hầu hết các khâu như: Cung cấp thức ăn, nước uống, thu trứng, tạo độ ẩm, thông gió, đảo trứng… đều có máy móc thay sức người.
Trung tâm Gà giống gốc Dabaco Yên Thế áp dụng quy trình tự động hóa trong sản xuất.
Để triển khai quy trình tự động hóa, từ năm 2017 khi xây dựng cơ sở, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên gà giống Dabaco đã thiết kế hệ thống chuồng trại hiện đại và nhập khẩu các loại máy móc phục vụ chăn nuôi từ Pháp, Mỹ đưa vào khu sản xuất. Theo đó, nếu muốn thu gom trứng, chỉ cần gạt công tắc là băng tải vận chuyển trứng tự động vận hành, công nhân đứng tại chỗ vừa nghe nhạc vừa có thể nhặt hàng nghìn quả trứng xếp vào vỉ mà không mất công đi lại.
Ở khu ấp gà giống, toàn bộ các chỉ số về nhiệt độ, độ ẩm, hệ thống đảo trứng tự động, thời gian ấp trứng… đều hiển thị trên màn hình thiết bị. Với các tấm cảm biến, thanh tạo nhiệt độ giúp tự động điều chỉnh bảo đảm nhiệt độ trong phòng bảo quản trứng duy trì ở 16 độ C, ở khu ấp nở là 29 độ C. Với giải pháp này, trong mọi điều kiện thời tiết, Công ty bảo đảm cung cấp con giống chất lượng cao với số lượng gấp 4 lần so với biện pháp lai tạo giống thông thường.
Cùng với chăn nuôi gia cầm, các lĩnh vực thủy sản, trồng trọt cũng được nhiều chủ cơ sở quan tâm đầu tư hệ thống máy móc tự động hóa. Bà Nghiêm Thị Hường, Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất và Dịch vụ nông nghiệp Toàn Thắng (thành phố Bắc Giang) cho hay: “Hợp tác xã có hơn 1 ha trồng ớt, dưa chuột baby, nụ bí, nho hạ đen trong nhà màng. Chúng tôi đầu tư lắp đặt hệ thống tưới nước tự động giúp kiểm soát lượng nước tưới, chất lượng nguồn nước, tiết kiệm thời gian và chi phí thuê nhân công. Hiện hợp tác xã chỉ cần 6 lao động thường xuyên, giảm một nửa so với trước, song việc tưới cây chỉ mất 10 phút”.
Nhân rộng mô hình tự động hóa trong chăn nuôi
Thay vì áp dụng quy trình chăn nuôi gia trại thủ công, anh Dương Văn Trung (ở xã Minh Lập, Đồng Hỷ, Thái Nguyên) đã đưa các ứng dụng tự động hóa vào chăn nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp giải phóng nhân lực lao động thủ công. Quy trình này liên kết với nhóm hộ cùng sở thích đã tạo ra nhiều gia trại có chất lượng sản phẩm đồng đều và nâng cao giá trị thương phẩm.
Tốt nghiệp đại học ngành Điện tự động hơn chục năm trước, anh Dương Văn Trung cùng các bạn học đã đến làm việc tại nhiều doanh nghiệp ở Quảng Ninh, Hải Phòng. Sau một thời gian, anh thấy công việc của mình so với những kiến thức đã học khá đơn điệu. Những cải tiến, sáng kiến trong quá trình làm việc ít được doanh nghiệp quan tâm và giá trị từ sáng kiến của mình khó phát huy, khi quy trình sản xuất đòi hỏi tính tương tác và đồng bộ cho cả nhà máy…
Năm 2015, anh Trung quyết định trở về lập nghiệp cùng gia đình tại xóm Minh Lý, xã Minh Lập, với nghề trồng, chế biến chè và chăn nuôi gia trại.
Với trên 2.000m2 chè và gần 10.000m2 vườn bãi, rừng sản xuất, anh Trung đã lắp đặt hệ thống tưới nước tự động. Thiết bị được kết nối với máy bơm nước và điều khiển qua điện thoại thông minh. Từ cách làm này, anh cùng gia đình hoàn toàn chủ động tưới chăm sóc cây trồng mà không mất công kéo máy bơm đến các địa điểm hút nước như trước đây.
Đồng thời, anh thiết kế các thùng pha chế phân bón theo từng chủng loại và thời điểm, tốc độ phun nước tưới thích hợp cho cây trồng…
Chỉ sau 4 tháng, cây trồng phát triển mạnh, nhất là năng suất, chất lượng chè tăng 1,5 lần so với quy trình chăm sóc thủ công trước đây, giá trị thu hoạch từ chè đạt gần 140 triệu đồng/ha/năm.
Sau khi quy hoạch tổ chức lại sản xuất, phát triển kinh tế gia đình, anh Trung đã dành trên 3.000m2 đất vườn bãi trồng cỏ cùng theo quy trình phun tưới tự động để làm thức ăn cho bò 3B, quy hoạch lại chuồng trại nuôi 100 con lợn thịt, 6 lợn nái và 3.000 còn gà thịt/lứa.
Kết quả, tổng thu nhập năm 2016 đạt trên 1,5 tỷ đồng, chi trả nhân công thường xuyên cho 4 lao động với thu nhập trên 7,5 triệu đồng/tháng.
Từ những thành công ban đầu, anh Trung đã tự học thêm các lớp tập huấn về chăn nuôi, thú y và kết hợp đưa dây chuyền tự động vào các khâu chăn nuôi, chế biến cám… nên gia trại cho thu nhập ổn định từ 1,5-1,7 tỷ đồng/năm. Sau khi trừ chi phí đầu tư, mỗi năm gia đình dành ra thêm được trên 500 triệu đồng.
Anh Trung chia sẻ: Thu nhập cao nhất là nuôi gà theo dây chuyền tự động. Gà con được nuôi trong khu trại tập trung khoảng 3 tháng theo chế độ tự động được lập trình trên máy tính hoặc điện thoại thông minh, sau đó được thả chạy bộ trên đồi vườn rừng. Chính vì vậy, chất lượng thịt luôn được khách hàng ưa chuộng, nên giá bán cũng cao hơn so với mặt bằng chung của các gia trại trong khu vực.
Do nhu cầu tăng cao nên gia đình anh Trung đã liên kết với các hộ trong xóm và chuyển giao công nghệ tự động hóa, cũng như công thức, kỹ thuật chăn nuôi…
Năm 2024 và đầu năm nay, gia đình anh đã nâng quy mô chăn nuôi gà lên 30-35 nghìn con/lứa bằng giống lai Hồ, thông qua liên kết với 10 hộ trong xã và đạt sản lượng hơn 200 tấn gà thịt/năm.
Ở tuổi 36, anh Trung đã có bước đi vững vàng bằng chính chuyên môn của mình và tạo dựng kinh tế gia đình khá giả. Để ứng dụng công nghệ tự động hóa sâu hơn nữa vào chăn nuôi, anh Trung cho biết thêm: Trước khi áp dụng thì phải hiểu rõ, nắm chắc những đặc tính sinh trưởng của vật nuôi, cây trồng, cũng như đặc điểm thổ nhưỡng, thời tiết hằng ngày… từ đó tổng hợp thành những tham số chung nhất để thiết kế quy trình vận hành.
Hiện nay, các gia trại liên kết sau khi được tập huấn, chuyển giao công nghệ, về cơ bản đã làm chủ được kỹ thuật tự động và sản xuất đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, sản xuất, kinh doanh vẫn chưa thật sự ổn định, thời gian tới anh tiếp tục xây dựng chuỗi liên kết chặt chẽ hơn nữa, nhất là khâu xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường có tính bền vững.
Cần đầu tư thỏa đáng
Dù lợi ích lớn nhưng việc ứng dụng tự động hóa còn không ít khó khăn. Trước hết, để vận hành được hệ thống đòi hỏi chủ cơ sở phải đầu tư nguồn kinh phí khá lớn để mua sắm thiết bị, xây dựng hạ tầng. Chưa kể năng lực, trình độ của một bộ phận nông dân còn hạn chế, chưa cập với xu hướng phát triển. Cơ sở áp dụng cần bảo đảm quy mô sản xuất từ 0,8 ha trở lên đối với nuôi trồng thủy sản; từ 1 ha trở lên đối với mô hình trồng trọt, chăn nuôi.
Ông Lê Bá Thành, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Bắc Giang cho biết, để đạt mục tiêu, thời gian qua, tỉnh quan tâm triển khai nhiều hoạt động nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp. Cùng với đó ban hành nhiều nghị quyết hỗ trợ hợp tác xã đầu tư xây dựng hạ tầng khu sản xuất, chuyển giao khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh liên kết sản xuất do tỉnh hỗ trợ, các chủ cơ sở sản xuất đã chú trọng đầu tư kinh phí lắp đặt thiết bị máy móc. Nông dân được tập huấn, trang bị kiến thức quản lý, khai thác, vận hành thiết bị tự động.
Hiện nay, tỉnh xác định 7 sản phẩm nông sản chủ lực, đặc trưng và tiềm năng gồm: Lợn, gà, vải thiều, lúa – gạo, rau các loại, mỳ gạo, chè Yên Thế. Trên địa bàn tỉnh có 774 hợp tác xã, 86 tổ hợp tác và 586 trang trại. Cùng đó các địa phương xây dựng được 1.520 mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao sản xuất hiệu quả có liên kết tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp, hợp tác xã theo chuỗi giá trị. Đây là những điều kiện thuận lợi để các địa phương tiếp tục quan tâm triển khai chính sách hỗ trợ nông dân thúc đẩy sản xuất nông nghiệp công nghệ hiện đại.
Ông Võ Văn Hưng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng, chính sách tín dụng đóng vai trò quan trọng, là động lực giúp nông dân, HTX và doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào sản xuất nông nghiệp thông minh, hiện đại.
Vì vậy, ông Hưng nêu ra 5 đề xuất đối với vấn đề này.
Thứ nhất, xây dựng cơ chế tín dụng đặc thù cho doanh nghiệp, HTX đầu tư vào nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn, chế biến sâu.
Thứ hai, mở rộng tín dụng ưu đãi cho các dự án ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số trong sản xuất nông nghiệp
Thứ ba, tăng cường các gói tín dụng xanh, tín dụng không tài sản đảm bảo đối với các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững.
Thứ tư, xây dựng cơ chế bảo lãnh tín dụng dành riêng cho HTX nông nghiệp, giúp tiếp cận nguồn vốn dễ dàng.
Thứ năm, thúc đẩy tài chính vi mô, hỗ trợ nông dân, hộ sản xuất nhỏ tiếp cận nguồn vốn một cách thuận lợi.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn Ngà, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Mebi Farm, cho rằng, muốn tháo gỡ các điểm nghẽn, trước tiên các đơn vị, doanh nghiệp cần quan tâm đến sản phẩm nông nghiệp sử dụng ít tài nguyên mà vẫn đạt năng suất cao, phẩm chất tốt.
Cụ thể, cần đầu tư vào công tác giống, quy trình công nghệ canh tác và công nghệ sơ chế, chế biến sau thu hoạch. Ở khía cạnh này, để kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ đáp ứng và triển khai được vào thực tiễn thì hoạt động nghiên cứu phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của nhà nông và đi cùng nhà nông.
“Để phát triển nông nghiệp xanh và bền vững thì phải đầu tư ứng dụng công nghệ canh tác, nuôi trồng theo quy trình tuần hoàn, giảm lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí. Muốn đầu tư ứng dụng công nghệ thì phải có vốn cho nông nghiệp xanh”, đại diện Mebi Farm cho biết.
Đồng quan điểm, ông Lê Minh Dũng, Chủ tịch Hội Nông dân TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ, muốn đầu tư phát triển nông nghiệp trước tiên cần quan tâm đến nguồn vốn. Ngành Nông nghiệp cần chú trọng huy động các nguồn lực xã hội, nhất là từ doanh nghiệp. Ngoài ra, cần tăng cường hợp tác quốc tế để kêu gọi hỗ trợ về tài chính và chuyển giao công nghệ.
Thanh Xuân/ kinhtenongthon.vn
Doanh nghiệp sản xuất xanh