;

Sears – Huyền thoại bán lẻ Mỹ và bài học đắt giá về quản trị thương hiệu

Trong thế kỷ 20, Sears không chỉ là một nhà bán lẻ – đó là một phần trong cuộc sống của người Mỹ, tuy nhiên đã có nhiều thay đổi theo thời gian. 

1/8/2025

Với những cuốn catalog được gửi đến tận nhà và chuỗi cửa hàng Sears Mall trải dài khắp nước Mỹ, người tiêu dùng có thể tìm thấy mọi thứ họ cần – từ quần áo, nội thất đến công cụ xây dựng. Tuy nhiên, khi bước sang thế kỷ 21 – thời đại của Amazon, Walmart và Target – Sears đã không theo kịp nhịp phát triển.

Và sự sụp đổ của họ là một bài học lớn cho bất kỳ doanh nghiệp nào trong thời đại số.

Sai trong tư duy vận hành

Khi Eddie Lampert – một nhà đầu tư tài chính – nắm quyền CEO, Sears bắt đầu được điều hành như một quỹ đầu tư. Các bộ phận bị chia nhỏ thành những “profit center” hoạt động độc lập và cạnh tranh nội bộ để cắt giảm chi phí.

Dù một số chỉ số tài chính được cải thiện trong ngắn hạn, nhưng hậu quả là sự chia rẽ nội bộ, mất đi sự cộng tác và một trải nghiệm khách hàng rời rạc – thứ từng là thế mạnh của Sears đã hoàn toàn bị loại bỏ, bởi sự làm sai cách.

Một cửa hàng của tập đoàn bán lẻ Sears ở Los Angeles, California, Mỹ. Ảnh: TTXVN phát

Bỏ lỡ làn sóng đổi mới công nghệ và trải nghiệm

Khi các đối thủ mạnh tay đầu tư vào thương mại điện tử, logistics hiện đại và công nghệ phục vụ khách hàng, Sears vẫn giữ cách vận hành cũ kỹ. Cửa hàng xuống cấp, nhân viên thiếu động lực, thương hiệu không còn hấp dẫn trong mắt thế hệ trẻ.

Sự sụp đổ của Sears đánh dấu sự sụp đổ của đế chế bán lẻ từng lớn nhất thế giới và đã thay đổi cách sống, mua sắm của cả nước Mỹ vào thế kỷ trước.

Sears khởi nguồn là một công ty bán đồng hồ, trang sức bằng catalog đặt hàng qua thư vào năm 1886. Công ty này sau đó trở thành hãng bán hàng qua catalog lớn nhất tại Mỹ khi mở rộng bán nhiều mặt hàng khác.

Vào những năm 1920, xu hướng mua hàng qua catalog bắt đầu suy giảm, Sears thích nghi với thời thế bằng việc mở các cửa hàng. Theo Investopedia, doanh số tại các cửa hàng của hãng vượt doanh số từ bán hàng qua catalog vào năm 1931.

Sears sau đó mở rộng cung cấp dịch vụ tài chính, cho ra đời mảng bảo hiểm với Allstate và thâu tóm nhiều hãng môi giới tài chính. Hãng này cũng bắt đầu ra mắt các thương hiệu riêng như Craftsman, DieHard, và Kenmore.

Vào những năm 1970, Sears bất đầu mất đi quyền lực thống trị trong ngành bán lẻ khi các cửa hàng giá rẻ như Target, Kmart, và Walmart giành thị phần. Tới năm 191, Walmart vượt Sears trở thành hãng bán lẻ lớn nhất tại Mỹ.

Vào những năm 1990, Sears bắt đầu đóng cửa các công ty kinh doanh bảo hiểm và tài chính của mình, đồng thời khai tử hoạt động bán hàng qua catalog.

Năm 2003, Sears bán công ty thẻ tín dụng của mình cho Citigroup để tập trung hoàn toàn vào mảng bán lẻ. Mảng thẻ tín dụng khi đó vượt qua cả mảng bán lẻ cốt lõi và chiếm tới 60% lợi nhuận hàng năm của Sears.

Nhưng đế chế bán lẻ này vẫn tiếp tục hứng chịu nhiều áp lực lớn khi người tiêu dùng bắt đầu có xu hướng mua sắm trực tuyến và Sears đã không thích nghi kịp.

Năm 2004, Sears sáp nhập với chuỗi bán lẻ giá rẻ Kmart. Người đứng sau thương vụ này là Eddie Lampert – khi đó là chủ tịch của Kmart với 50% cổ phần thông qua quỹ đầu cơ ESL Investments của ông

Lampert cũng là cổ đông lớn nhất của Sears với 15% cổ phần. Sau đó, ông trở thành chủ tịch của Sears Holdings – công ty được hình thành sau khi sáp nhập Sears và Kmart.

Vào năm 2004, Business Week từng dự báo Lampert sẽ trở thành huyền thoại Warren Buffett tiếp theo. Năm đầu tiên sau khi sáp nhập, doanh thu của Sears Holdings tăng, nhưng lại sụt mạnh trong 9 năm tiếp đó.

Khi doanh thu tiếp tục sụt giảm, Sears bắt đầu đóng các cửa hàng, bán đi nhiều bất động sản và thương hiệu. Các cửa hàng Sears và Kmart rơi vào tình trạng thiếu nhân viên trầm trọng, một số hoạt động với một nửa lượng nhân viên cần thiết và hoạt động cầm chừng.

Rạng sáng 15-10, 2018, Sears công bố đã đệ đơn xin bảo hộ phá sản theo Chương 11 Luật Phá sản Mỹ

Thời đại của Sears đã khép lại một cách đáng tiếc và theo một cách vô cùng thất vọng và làm nhiều người tiếc nuối.

Cắt giảm sai cách

Thay vì tái đầu tư và đổi mới, Sears lại chọn cách đóng cửa, bán tài sản nhằm cắt giảm chi phí. Đây là điều đáng tiếc nhất của Sears.

Nhưng điều đáng tiếc là họ không đưa ra được lý do thuyết phục để giữ chân khách hàng. Khi yếu tố cảm xúc và sự quen thuộc biến mất, khách hàng cũng rời đi nhanh chóng, không chút do dự.

Kết quả là doanh thu rơi vào tình trạng thảm họa. Doanh thu giảm từ 53 tỷ USD năm 2006 xuống còn 13 tỷ USD năm 2018. Đồng thời với đó là hàng trăm cửa hàng đóng cửa, hàng chục nghìn nhân viên mất việc.

Năm 2018, Sears chính thức nộp đơn phá sản, trở thành một trong những thất bại lớn nhất lịch sử của ngành bán lẻ ở Mỹ, theo cách bi đát nhất.

Nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett từng dự báo đế chế Sears và Lampert sẽ sớm sụp đổ và điều đó đã trở thành sự thật. “Eddie là một người rất thông minh nhưng việc sáp nhập Kmart và Sears là thiếu khôn ngoan”, Buffett nói trong một buổi trò chuyện tại Đại học Kansas. “Vực dậy một hãng bán lẻ đã trượt dài quá lâu là điều vô cùng khó”.

Bài học chiến lược từ sự sụp đổ của Sears

Sự sống còn của một thương hiệu không chỉ đến từ tài sản hữu hình, mà đến từ niềm tin của khách hàng, trải nghiệm đồng nhất và sự đổi mới liên tục.

Trong kỷ nguyên số, doanh nghiệp cần chuyển mình nhanh chóng và đặt khách hàng làm trung tâm.

Sears đã làm mất dần thiện cảm của người mua sắm trong những năm gần đây trong bối cảnh các cửa hàng trực tuyến và cửa hàng bán lẻ lớn như Walmart và HomeDepot đã vượt trội Sears về ưu thế giá cả, sự tiện lợi và cả kỹ năng làm PR của họ cực kỳ chuyên nghiệp.

Quản trị tài chính là cần thiết, nhưng không đủ mạnh và không đi đúng hướng thì mọi sự nỗ lực chỉ là vô vọng. Nhiều vấn đề của Sears là tự mình gây ra.

Ban quản lý công ty luôn tìm cánh cạnh tranhnhưng không lành mạnh. Họ thông qua đóng cửa các cửa hàng và cắt giảm chi phí là chính.

Sears cắt giảm chi tiêu quảng cáo và không đầu tư vào hiện đại hóa các cửa hàng. Dần dần, các cửa hàng của Sears và Kmart đều xuống cấp trầm trọng. Nếu ghé qua nhiều cửa hàng của Sears, người ta sẽ chỉ thấy các cửa hàng đơn giản, cũ kỹ; ánh sáng lờ mờ với các tấm thảm bẩn bẩn, dây điện lòng thòng trên trần, các giá hàng toàn những đồ rẻ tiền, không hấp dẫn.

Ngành bán lẻ thay đổi chóng mặt. Nhiều nhà bán lẻ mới xuất hiện như Costco, Walmart hay Amazon đã thay đổi thói quen mua sắm và thu hút dần dần khách hàng của Sears. Trong khi đó, các lãnh đạo Sears chỉ chăm chăm đi theo kiểu cũ của họ và không nhìn tình hình xung quanh. Tự phụ đã giết chết chính họ.

Khi cả thế giới thay đổi còn mình vẫn dậm chân tại chỗ thì kết cục của Sears là điều được dự báo trước, cho dù đó có là tên tuổi thống lĩnh một thời và không có đối thủ. Thực tế là để có một thương hiệu thành công cần một chiến lược toàn diện như kết hợp giữa dữ liệu, cảm xúc, tư duy và tầm nhìn dài hạn của nhà quản lý.

Đồng thời phải nỗ lực kiện toàn tổ chức thường xuyên nhằm theo kịp với sự chuyển biến của toàn ngành hoặc theo các xu hướng dich chuyển chung của nền kinh tế. Không thể một mình làm theo một kiểu, nếu không chẳng khác nào hành động tự sát.

Bài học của Sears vẫn là một sự ám ảnh với toàn bộ giới quản lý doanh nghiệp cho đến ngày nay. Nhưng cũng cho người ta thấy một chân lý: Nếu không đổi mới kịp thời thì ngay cả người khổng lồ cũng có thể sụp đổ bất cứ lúc nào, khi thị trường dịch chuyển các xu hướng mới.

Kiều Nguyễn

Xem thêm

Khoan thư sức dân, nuôi dưỡng nguồn thu: Góc nhìn thực chiến cho cộng đồng doanh nghiệp

Giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động và áp lực chi …

;