Xu hướng sản xuất xanh hoặc chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế tại Việt Nam, nhưng nó đang tập trung mạnh mẽ và có nhu cầu cao nhất ở một số ngành cơ bản.
25/10/2025
Rau sạch Trường Phúc, Lâm Đồng
Ngành Sản xuất, Chế biến, Chế tạo
Đây là ngành có nhu cầu chuyển đổi xanh cao nhất, chiếm khoảng 48% tổng nhu cầu việc làm xanh.
Sự chuyển dịch chuyển này là mang tính bắt buộc do áp lực từ thị trường xuất khẩu. Đó là thực hiện các Thỏa thuận Xanh châu Âu – European Green Deal; Theo cơ chế điều chỉnh biên giới carbon – CBAM và qui định đi theo chuỗi cung ứng toàn cầu. Đặc biệt là với các doanh nghiệp xuất khẩu sang các thị trường xuất khẩu như EU, Mỹ.
Dẫn đầu trong ngành này là các hoạt động của Ngành Dệt may và Da giày. Với việc tập trung vào sử dụng vật liệu hữu cơ, quy trình sản xuất khép kín, giảm thiểu nước và hóa chất, và sử dụng năng lượng tái tạo.
Với việc tăng cường sử dụng nguyên liệu bền vững: Chuyển sang sử dụng sợi hữu cơ, sợi tái chế (từ chai nhựa PET hoặc quần áo cũ), và sợi sinh học (từ tre, sen, dứa)…vv. Đầu tư lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà và sử dụng lò hơi sinh khối (Bio-mass) để giảm phát thải CO₂ trong quá trình sản xuất.
Ngành Gỗ với việc tăng cường quản lý rừng bền vững, sử dụng gỗ có chứng chỉ và giảm thiểu chất thải.
Tuân thủ các quy định chống phá rừng như EUDR (Quy định Chống Mất rừng của EU) và Hiệp định VPA/FLEGT, yêu cầu phải có chứng nhận quản lý rừng bền vững (FSC) và chứng nhận chuỗi hành trình sản phẩm (CoC).
Doanh nghiệp phải tự tối ưu hóa quy trình sản xuất để giảm thiểu chất thải gỗ, tận dụng phế phẩm làm nhiên liệu (viên nén gỗ) hoặc vật liệu khác. Đồng thời, sản xuất đồ nội thất sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, keo dán ít phát thải formaldehyde.
Ngành Nhựa với việc đẩy mạnh thiết kế sinh thái, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, và sử dụng vật liệu tái chế.
Xu thế mới trong ngành là theo đuổi các hoạt động Kinh tế tuần hoàn: Đẩy mạnh đầu tư vào công nghệ tái chế hiện đại (dây chuyền Erema, Starlinger) để sản xuất hạt nhựa tái sinh chất lượng cao; Thay đổi thiết kế sản phẩm và bao bì để dễ tái chế hơn và sử dụng vật liệu thân thiện môi trường hơn (nhựa sinh học, nhựa phân hủy).
Đồng thời, giảm dần sự phụ thuộc vào nguyên liệu hóa thạch và tăng cường các nguyên liệu có khả năng tái tạo cao và có thể hoàn nguyên. Tức là các nguồn nguyên liệu không bị cạn kiệt theo thời gian và có thể được sản xuất, tái sản xuất một cách bền vững.
Ngành Sắt thép, Xi măng, Hóa chất. Đây là các ngành thâm dụng năng lượng và phát thải lớn, đang được ưu tiên chuyển đổi bằng mọi cách. Nhằm áp dụng công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS) và sử dụng nhiên liệu sạch để tăng cường giảm phát thải.
Đây đang là những ngành thâm dụng năng lượng và phát thải cao và việc chuyển đổi xanh là bắt buộc để đạt mục tiêu Net Zero.
Với ngành công nghiệp xi măng, các công ty ngoài sản xuất truyền thống thì đang tìm cách sử dụng vật liệu thay thế Clinker (như tro bay, xỉ lò cao) để giảm phát thải CO₂ trong quá trình nung. Áp dụng công nghệ thu hồi nhiệt thải để phát điện và giảm phát thải trong quá trình sản xuất. Các hoạt động này nhằm thực hiện cơ chế CBAM của EU, buộc doanh nghiệp phải tính toán cường độ phát thải carbon của từng sản phẩm, khi tham gia các công trình mang tính quốc tế, ở nước ngoài.
Với ngành sắt thép, thì việc đầu tư thay thế dần công nghệ lò cao (phát thải cao) bằng công nghệ lò điện hồ quang (EAF) sử dụng phế liệu (thép phế liệu) và tích hợp năng lượng tái tạo, giảm phát thải hiệu quả hơn.
Hoàn thành chuyển đổi xanh vào khoảng năm 2035 theo cam kết quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh. Chuyển đổi xanh trong ngành không chỉ là tuân thủ mà còn là cơ hội để ngành thép Việt Nam đạt chuẩn quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu, đặc biệt là các thị trường yêu cầu cao về “thép xanh”.
Thực hiện kiểm kê phát thải carbon theo các tiêu chuẩn quốc tế (ISO 14064-1) để minh bạch hóa quá trình sản xuất, đáp ứng yêu cầu của khách hàng và CBAM.
Ngành Năng lượng Tái tạo
Đây cũng là lĩnh vực thu hút vốn đầu tư lớn nhất cho tăng trưởng xanh. Năng lượng tái tạo gồm có các hoạt động phát triển điện mặt trời, điện gió, và các giải pháp lưu trữ năng lượng hiệu quả.
Sản xuất điện không chỉ đơn thuận phục vụ các ngành sản xuất khác mà mà còn là nền tảng để xanh hóa toàn bộ nền kinh tế và chuỗi cung ứng quốc gia.
Với ngành năng lượng điện. Điện mặt trời áp mái (cho dân dụng và khu công nghiệp) và các trang trại điện mặt trời quy mô lớn đang dần hình thành nhiều hơn với nhiều đơn vị, doanh nghiệp tích cực tham gia.
Điện gió trên đất liền (onshore) và điện gió ngoài khơi (offshore) là ngành năng lượng tái tạo mà Việt Nam có thế mạnh nên cũng đang được quan tâm lớn trong thời gian vừa qua. Dù còn chậm chạp so với tiềm năng khổng lồ hiện có, nhưng các chuyển động của thị trường này đang dần được các đối tác nước ngoài quan tâm đầu tư trong thời gian qua.
Các xu hướng như phát triển thủy điện hiện nay đang tập trung vào các dự án nhỏ và vừa, cân bằng giữa phát điện và bảo vệ môi trường, không xây dựng ồ ạt các đập lớn.
Các mô hình Điện sinh khối (Biomass Power) được đẩy mạnh. Với việc sử dụng các chất thải hữu cơ (như trấu, bã mía, viên nén gỗ) từ ngành nông nghiệp và chế biến để đốt và phát điện. Đây là một phần quan trọng của mô hình Kinh tế Tuần hoàn, đặc biệt vừa qua đang thực hiện hiệu quả trong ngành nông nghiệp.
Nhìn chung, ngành nản lượng đang đóng vai trò cốt lõi trong việc đạt được cam kết Net Zero (phát thải ròng bằng 0) vào năm 2050 của Chính phủ Việt Nam, bằng cách thay thế các nguồn năng lượng hóa thạch (than, dầu mỏ) gây phát thải carbon lớn và thực hiện các bước đi giảm phát thải thấp.
Sản xuất pin và năng lượng lưu trữ: Phục vụ cho xe điện và hệ thống điện quốc gia cũng đang diễn ra với qui mô ngày càng rộng lớn hơn trước đây rất nhiều lần.
Việc phát triển sản xuất pin và hệ thống lưu trữ là xu hướng tất yếu để khắc phục tính không ổn định của điện mặt trời và điện gió, đảm bảo nguồn cung điện xanh liên tục.
Đồng thời thúc đẩy các hoạt động sản xuất hydrogen bằng cách sử dụng điện từ năng lượng tái tạo (điện phân nước) đang được nghiên cứu và thí điểm. Hydrogen xanh được kỳ vọng là nhiên liệu sạch cho các ngành công nghiệp khó giảm phát thải như thép, xi măng và giao thông vận tải nặng.
Ngành Nông nghiệp công nghệ cao và bền vững
Nông nghiệp Xanh hay là Nông nghiệp công nghệ cao và bền vững là một lĩnh vực tiên phong trong sản xuất xanh, tập trung vào việc áp dụng công nghệ để tối ưu hóa hiệu suất đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Với mục tiêu chính là tạo ra sản phẩm an toàn, có khả năng truy xuất nguồn gốc, và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.
Với Trồng trọt và Sản xuất nông nghiệp. Đây là ngành này có tiềm năng nhất về sản xuất xanh và tạo ra khối lượng việc làm xanh rộng lớn. Thúc đẩy chuyển đổi xanh hiệu quả ở cả nông thôn và thành thị. Với ba trụ cột chính là: Nông nghiệp hữu cơ; Nông nghiệp tuần hoàn; Nông nghiệp chính xác.
Với rất nhiều lợi ích mà chúng ta có thể liệt kê được là: Giảm ô nhiễm đất, nước; bảo vệ đa dạng sinh học và sức khỏe con người. Giảm thiểu chất thải, tạo ra nguồn năng lượng sinh khối (biogas, viên nén), giảm chi phí đầu vào. Tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhờ dùng đúng cách, đúng liều lượng nhu cầu phân bón, nước tưới, dinh dưỡng cây trồng đúng liều lượng, đúng vị trí cần thiết, sử dụng các loại vi sinh tốt cho đất, nước, môi trường.
Với Thủy sản: Ứng dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng và xử lý chất thải trong nuôi trồng hiệu quả.
Chuyển đổi xanh trong ngành Thủy sản tập trung vào việc áp dụng các mô hình nuôi trồng và khai thác bền vững, nhằm giảm thiểu tác động môi trường, tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và đảm bảo chất lượng sản phẩm. Ngành này đóng vai trò quan trọng trong sản xuất xanh vì nó cung cấp nguồn protein bền vững và là ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Nuôi trồng Thủy sản Bền vững là trọng tâm của chuyển đổi xanh, nhằm giảm ô nhiễm và tăng hiệu quả. Với việc ap dụng các hệ thống RAS (Recirculating Aquaculture System) hoặc nuôi tôm/cá siêu thâm canh 2-3 giai đoạn để tái sử dụng nước nuôi trồng, giảm thiểu lượng nước thải ra môi trường. Đồng thời tận dụng bùn thải để sản xuất phân bón hữu cơ hoặc biogas.
Sử dụng thức ăn công nghiệp có hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) thấp và được chứng nhận không gây biến đổi gen (Non-GMO). Kiểm soát tự động việc cho ăn để tránh dư thừa, giảm thiểu ô nhiễm đáy ao hay các bể chứa.
Đồng thời theo đuổi các Chứng nhận xanh Quốc tế như: Đạt các chứng nhận nuôi trồng bền vững như ASC (Aquaculture Stewardship Council), BAP (Best Aquaculture Practices) hoặc GlobalG.A.P để đáp ứng yêu cầu của các thị trường khó tính (EU, Mỹ)…vv.
Chuyển đổi xanh cũng bao gồm các biện pháp để bảo vệ nguồn lợi thủy sản tự nhiên và theo đuổi các hoạt động xanh trong ngành như: Giảm cường độ khai thác: Quản lý đội tàu, hạn chế và kiểm soát nghiêm ngặt việc đánh bắt ở các khu vực cấm hoặc trong mùa sinh sản. Chống Khai thác IUU (Bất hợp pháp, Không báo cáo và Không theo quy định): Thực hiện nghiêm ngặt việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm từ tàu cá đến cơ sở chế biến theo quy định quốc tế và cảnh báo thẻ vàng của EU.
Thêm vào đó, trong quá trình vận hành đang có nhiều nhà máy chế biến thủy sản lớn đang lắp đặt điện mặt trời áp mái và tối ưu hóa hệ thống lạnh để giảm đáng kể tiêu thụ năng lượng và chi phí vận hành. Thực hiện quản lý năng lượng điện, nước hiệu quả.
Một số nhà máy còn tận dụng phụ phẩm (đầu, vỏ tôm, xương cá) để sản xuất các sản phẩm có giá trị như chitin, collagen, và dầu cá và thực hiện các hoạt động xanh, tuần hoàn, hiệu quả và thực chất. Một số đơn vị chuyển sang sử dụng bao bì tái chế hoặc dễ phân hủy cho sản phẩm xuất khẩu và tiêu dùng nội địa. Nhằm thực hiện các chiến lược xanh lâu dài.
Ngành Xử lý và Tái chế Chất thải
Ngành Xử lý và Tái chế Chất thải là một trong những lĩnh vực trọng tâm nhất của sản xuất xanh và Kinh tế Tuần hoàn tại Việt Nam. Nó chuyển hóa rác thải thành tài nguyên, giúp giảm áp lực lên môi trường và tạn dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên cho sự phát triển của cộng đồng và nền kinh tế.
Ngành đang có áp dụng các công nghệ và mô hình tái chế tiên tiến như: Xử lý Rác thải thành Năng lượng; Sản xuất hạt nhựa tái sinh; Tái chế Kim loại Vô hạn và Sản xuất phân bón hữu cơ, tốt cho môi trường và cộng đồng. Thực hiện các biện pháp xanh, sạch và bảo vệ môi trường.
Đốt rác thải rắn sinh hoạt để phát điện đang được áp dụng. Đây là giải pháp thay thế hiệu quả cho chôn lấp. Sản xuất ra năng lượng xanh từ rác. Giảm diện tích đất cần cho các bãi chôn lấp, gây ô nhiễm môi trường.
Áp dụng công nghệ tiên tiến (như dây chuyền Erema) để xử lý rác thải nhựa thành hạt nhựa tái chế chất lượng cao (rPET, rHDPE). Nhằm cung cấp nguyên liệu đầu vào “xanh” cho ngành nhựa, dệt may và bao bì.
Thu hồi và tái chế sắt thép, nhôm, đồng. Các kim loại này có thể được tái chế nhiều lần mà không suy giảm chất lượng. Làm giảm đáng kể nhu cầu khai thác quặng, tiết kiệm tới 95% năng lượng so với sản xuất nhôm nguyên sinh.
Xử lý rác thải hữu cơ (thực phẩm, nông nghiệp) thành compost hoặc phân bón vi sinh, thân thiện với môi trường. Cung cấp đầu vào xanh cho ngành nông nghiệp, khép kín chu trình dinh dưỡngcho các vùng trồng và có thể kiểm soát được nguồn dinh dưỡng đầu vào hiệu quả.
Trên đây là một số hoạt động sản xuất xanh đang diễn ra ở các lĩnh vực cụ thể, có tỉ trọng chiếm nhiều nhất trong các hoạt động xanh của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam.
Và sự dịch chuyển này đang còn diễn ra mạnh mẽ hơn, với nhiều cung cách sản xuất xanh hiệu quả sẽ còn được áp dụng vào nhanh hơn, đa dạng hơn và hiệu quả hơn rất nhiều trong thời gian tới.
Thành Nguyễn.
Doanh nghiệp sản xuất xanh