;

Khái niệm “Tài nguyên mềm” của kinh tế biển là gì?

Khi bàn về kinh tế biển, tư duy truyền thống thường chỉ chăm chăm nhìn vào những tài nguyên “cứng” – tức là những thứ có thể nhìn thấy, đong đếm và khai thác trực tiếp bằng vật chất như: mỏ dầu khí dưới đáy đại dương, sản lượng thủy hải sản đánh bắt, các cảng nước sâu logistics, hay những bãi cát để xây khu nghỉ dưỡng.

3/9/2026

Nhưng ngược lại “tài nguyên mềm” của kinh tế biển lớn hơn rất nhiều. Đó là phần giá trị phi vật chất gắn liền với biển: đó là văn hóa bản địa, lịch sử, các lễ hội dân gian, tri thức truyền đời của ngư dân, ẩm thực vùng miền, ký ức cộng đồng và bản sắc của các làng chài ven biển.

Đây là thứ tài nguyên không bị cạn kiệt nếu biết cách nuôi dưỡng, nhưng lại là yếu tố quyết định tạo nên sự khác biệt để giữ chân dòng tiền và du khách dài lâu.

Tài nguyên mềm trong chiến lược kinh tế biển mới

Sự dịch chuyển từ khai thác tài nguyên vật chất sang kinh tế trải nghiệm có chiều sâu

Điểm mù của tư duy cũ là các địa phương ven biển chỉ khai thác tài nguyên “cứng” (xây khách sạn san sát dọc bãi biển, chỉ trông chờ vào việc tắm biển hay khai thác hải sản), mô hình tăng trưởng đó sẽ rất ngắn hạn, dễ bị tổn thương trước thời tiết (như mùa biển động, gió mùa) và gây cạn kiệt môi trường.

Giá trị thực tế của tài nguyên mềm lại khác. Một bãi biển đẹp có thể kéo du khách đến một lần, nhưng chính những câu chuyện văn hóa, lịch sử chủ quyền (như di sản Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn), nếp sống làng chài, hay các sản phẩm thủ công mới là thứ níu chân du khách ở lại lâu hơn và chi tiêu nhiều tiền hơn.

Đơn cử như Khánh Hòa, nhờ biết lồng ghép các giá trị văn hóa – không gian bản địa vào chiến lược du lịch, họ đã thu hút lượng khách khổng lồ và mang về doanh thu hàng chục nghìn tỷ đồng.

Định vị lại biển không chỉ là không gian kinh tế, mà là không gian sinh tồn và văn hóa

Theo tinh thần định hướng mới (như Nghị quyết số 20-NQ/TW), biển Việt Nam không đơn thuần là nơi để đánh bắt hay làm logistics, mà còn là không gian sinh tồn gắn liền với lịch sử giữ nước và phát triển của dân tộc.

Việc đánh thức “tài nguyên mềm” giúp khẳng định chủ quyền quốc gia một cách tự nhiên và sâu sắc nhất thông qua các di tích, lễ hội truyền thống, đồng thời biến văn hóa thành một thứ “hạ tầng mềm” để quy hoạch đô thị biển bền vững thay vì bê tông hóa ồ ạt.

Tránh cái bẫy “đô thị hóa làm mất gốc văn hóa làng chài”

Quá trình đô thị hóa ven biển diễn ra quá nhanh đang tạo ra áp lực cực lớn, có nguy cơ xóa sạch không gian sống truyền thống của các cộng đồng ngư dân.

Nếu người dân bản địa bị gạt ra ngoài lề, chỉ còn là những người làm thuê rẻ mạt trong các dự án du lịch lớn, thì cái gọi là “văn hóa biển” sẽ chết yểu. Tài nguyên mềm chỉ có giá trị khi cư dân làng chài tiếp tục được hiện diện, trực tiếp làm dịch vụ, kể câu chuyện của chính họ và nhận lại sinh kế bền vững.

Giải pháp cốt lõi để khai thác hiệu quả “tài nguyên mềm” kinh tế biển

Số hóa và lập bản đồ di sản. Cần tiến hành tổng kiểm kê, số hóa toàn bộ tài nguyên văn hóa biển (từ lễ hội, tri thức dân gian đến ký ức lịch sử) để tạo ra các “Bản đồ số văn hóa biển”, phục vụ cho công tác nghiên cứu, giáo dục và làm cơ sở dữ liệu cho doanh nghiệp khai thác du lịch thông minh.

Đa dạng hóa chuỗi giá trị liên vùng. Không thể chỉ dựa vào một vài sản phẩm đơn lẻ. Cần tạo ra các hành lang văn hóa biển liên vùng (như tuyến “Ký ức làng biển”), kết hợp giữa sinh thái đầm – sông – vịnh với làng nghề truyền thống để tạo ra chuỗi dịch vụ hoạt động quanh năm, không bị đứt gãy bởi mùa mưa bão.

Cơ chế chia sẻ lợi ích thực chất. Thiết lập mô hình hợp tác công – tư (PPP) rõ ràng, trong đó một phần nguồn thu từ việc khai thác di sản biển phải được quay vòng trở lại để tái đầu tư bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống và sinh kế cho cộng đồng dân cư ven biển.

Hồng Thắm

Xem thêm

XK sầu riêng: Hướng tới mốc 4 tỷ USD nhờ loạt giải pháp tháo gỡ.

Tại phiên họp báo Chính phủ thường kỳ, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi …

;