Giáo sư Tôn Thất Tùng (1912 – 1982) là một bác sĩ phẫu thuật và nhà khoa học y học kiệt xuất của Việt Nam, nổi tiếng toàn thế giới với việc phát minh Phương pháp mổ gan khô (cắt gan có kế hoạch).
5/12/2025
Google Doodle đã vinh danh ông nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh (10/5/2022).
Một cuộc đời vĩ đại
Xuất thân và Học vấn. Ông sinh năm 1912 tại Thanh Hóa, lớn lên ở Huế, thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Nguyễn nhưng chọn con đường y học. Ông theo học tại Trường Y khoa Hà Nội (thuộc Đại học Y Dược Đông Dương).
Nghiên cứu đột phá. Trong 4 năm làm nghiên cứu sinh (1935–1939), ông đã phẫu tích hơn 200 lá gan tử thi để nghiên cứu tỉ mỉ về sự phân chia mạch máu trong gan. Ông bảo vệ thành công luận án tốt nghiệp với đề tài “Cách phân chia mạch máu của gan” (The Way of the Vascularization of the Liver).
Sau Cách mạng tháng Tám, ông trở thành một trong những trí thức tiêu biểu đi theo kháng chiến, từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trực tiếp chăm sóc sức khỏe cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Về Giáo dục và Quản lý. Ông là nguyên Giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức) và Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại khoa tại Trường Đại học Y Dược Hà Nội, đào tạo nhiều thế hệ bác sĩ phẫu thuật tài năng cho đất nước.
Bệnh viện Phủ Doãn chính là tiền thân của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, bệnh viện ngoại khoa tuyến đầu của Việt Nam tại Hà Nội. Bệnh viện tọa lạc ở số 40 Tràng Thi và 16-18 Phủ Doãn. Nơi đây nổi tiếng với lịch sử lâu đời gắn liền với nền y học hiện đại Việt Nam, là cái nôi của ngành phẫu thuật, thực hiện nhiều kỹ thuật cao và là cơ sở thực hành của Trường Đại học Y Hà Nội.
Từ năm 1947, cùng với GS Hồ Đắc Di, ông đã bắt tay xây dựng Trường Đại học Y khoa Hà Nội và gắn hơn nửa cuộc đời mình với công tác đào tạo. Hầu hết trong số các cán bộ y tế đã có thời gian học tập, thực tập tại trường và Bệnh viện Việt Đức đều nhớ tới ông với những buổi giao ban sống động, với những bài giảng nghiêm khắc, bổ ích.
Là Chủ nhiệm Bộ môn ngoại của Đại học Y, ông đã vun đắp đào tạo biết bao thế hệ học trò đã trưởng thành như GS Tôn Thất Bách, GS Đặng Hanh Đệ, GS Đỗ Đức Vân… Những quan điểm dạy học của ông như “học và hành thống nhất” cho đến bây giờ vẫn còn nguyên giá trị.
Về Danh hiệu. Ông được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động (Gồm có hai lần: 1962 và 1980) và Viện sĩ Viện Hàn lâm Y học Liên Xô.
Quan trọng hơn là sự công nhận của đất nước, nhiều tổ chức quốc tế, các tổ chức chuyên ngành trong và ngoài nước với di sản đồ sộ của ông trong ngành. Nhiều cuộc đời được cứu chữa, bởi bàn tay tài hoa của người bác sỹ tâm huyết, đại tài này.
Cố Giáo sư – bác sĩ Tôn Thất Tùng. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Thành tựu Vĩ đại của ông: Phương pháp Mổ gan khô
Đây là thành tựu nổi bật nhất và làm rạng danh y học Việt Nam trên trường quốc tế của Giáo sư Tôn Thát Tùng. Phương pháp này còn được gọi là “Phương pháp Tôn Thất Tùng” hoặc “Cắt gan có kế hoạch”.
Phương pháp này được công bố trên Tạp chí The Lancet (Anh) năm 1963, gây chấn động và được giới phẫu thuật toàn thế giới công nhận, gọi là “Phương pháp Tôn Thất Tùng” (Ton That Tung’s Method)
Phương pháp được dựa trên nguyên tắc thắt các tĩnh mạch gan trước hoặc trong khi cắt để giảm thiểu lượng máu mất (hay còn gọi là mổ khô). Nhằm giúp cho bệnh nhân có cơ hội sống lớn hơn, loại bỏ rủi ro và sau đó giúp cơ thể bệnh nhân hồi phục tốt hơn.
Kỹ thuật của ông đã thay đổi bản chất phương pháp truyền thống. Thay vì thắt toàn bộ các mạch máu ở cuống gan bên ngoài (phương pháp truyền thống, mất nhiều thời gian và rủi ro), GS. Tôn Thất Tùng đã sử dụng ngón tay hoặc dao nạo cùn bóp nát nhu mô gan và tìm, thắt từng mạch máu và ống mật ngay bên trong phần gan bị thương tổn.

Ý nghĩa của Phương pháp Tôn Thất Tùng
Phương pháp cắt gan khô của Giáo sư đã mang một bước ngoạt lớn trong ngành phẫu thuật gan thế giới, với các giá trị rất rõ ràng.
Giảm thời gian phẫu thuật. Từ 3-6 giờ (theo phương pháp truyền thống) xuống chỉ còn 4-8 phút đối với một số ca phẫu thuật nhanh.
Tăng tính an toàn. Giảm đáng kể lượng máu mất và tỷ lệ tử vong, mở ra khả năng thực hiện các ca đại phẫu gan phức tạp một cách an toàn hơn.
Công bố quốc tế. Công trình này được công bố trên Tạp chí The Lancet, một trong những tạp chí y học uy tín nhất thế giới vào năm 1963. Sau đó công bố này đã gây chấn động giới phẫu thuật quốc tế.
Di sản của ông để lại.
Ngoài phương pháp cắt gan khô nổi tiếng. Giáo sư Tùng đã đặt nền móng và phát triển nhiều chuyên ngành ngoại khoa quan trọng tại Việt Nam.
Ông cũng là người đầu tiên phẫu thuật tim tại Việt Nam vào năm 1958. Ca mổ thành công và mở ra thời kì mới cho ngành phẫu thuật tim Việt Nam.
Năm 1965, ông cũng triển khai thành công việc mổ tim bằng máy tim phổi nhân tạo ở ngay trong nước.
Với Ngoại nhi và Sọ não thì ông phát triển thành công khoa mổ sọ não và khoa ngoại nhi tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ năm 1959.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu trong chiến tranh của ông cũng thực sự xuất sắc. Những ứng dụng vào thực tế cứu chữa thương bệnh binh trên chiến trường còn được cho vào các tài liệu giảng dạy tại Việt Nam. Ông đã Nghiên cứu và đề xuất phương pháp điều trị các vết thương do bom bi trên các chiến trường.
Cùng Giáo sư Đặng Văn Ngữ, ông đã tham gia nghiên cứu, sản xuất Penicilline để điều trị cho thương bệnh binh trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Ông còn để lại một di sản khoa học đồ sộ với 123 công trình được công bố. Trong đó bao gồm các nghiên cứu về phẫu thuật gan mật, tim mạch, ung thư học và những nghiên cứu đầu tiên về tác hại của chất độc Dioxin đối với con người Việt Nam, sau chiến tranh.
Ông cũng là một trong những nhà khoa học đầu tiên trên thế giới nghiên cứu và đặt nền móng cho việc nghiên cứu tác hại của chất độc hóa học Dioxin (Chất độc màu da cam) đến sức khỏe của con người và môi trường đất, nước tại Việt Nam.
Ông còn là tác giả của nhiều cuốn sách giáo khoa và chuyên khảo quan trọng, phục vụ cho giảng dạy sinh viên ngành y khoa.
Với những đóng góp quan trọng của mình, ông đạt Huy chương Bạc của Trường Đại học Tổng hợp Paris (cho luận án 1939). Ngoài ra, ông còn được vinh danh nhận Huy chương Lannelongue (1977). Được Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris (Académie de Chirurgie de Paris) tặng. Đây là một giải thưởng danh giá, chỉ được trao 5 năm một lần cho nhà phẫu thuật giỏi nhất thế giới.
Ông được công nhận là Viện sĩ Quốc tế. Ông là Viện sĩ Viện Hàn lâm Y học Liên Xô (cũ) và Viện sĩ Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris. Chính những thành tựu vượt bậc này đã khẳng định vị thế của Giáo sư Tôn Thất Tùng là một trong những nhà phẫu thuật vĩ đại nhất thế giới thế kỷ 20.
Ghi nhận công lao của ông của nhà nước với các giải thưởng khác. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về Khoa học và Công nghệ.
Tên ông còn được đặt cho nhiều đường phố lớn tại Hà Nội (đi qua Đại học Y Hà Nội), TP. Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh thành khác trong cả nước. Nhà nước Việt Nam còn đặt ra Giải thưởng Tôn Thất Tùng về y học để vinh danh những cá nhân có đóng góp xuất sắc của ngành y Việt Nam.
Diệu Thanh
Doanh nghiệp sản xuất xanh