Theo dự thảo danh mục phân loại xanh, các dự án đầu tư xanh dự kiến gồm có 08 nhóm: năng lượng, giao thông vận tải, xây dựng, tài nguyên nước, nông- lâm- thủy sản, đa dạng sinh học, chế biến- chế tạo, dịch vụ môi trường…vv.
7/7/2025
Thực tế là tài chính xanh đã được luật hóa trong Luật Bảo vệ môi trường là tín dụng xanh và tài chính xanh.
Đến nay cũng đã có 50 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ tín dụng xanh và dư nợ vào khoảng 650 nghìn tỷ đồng, trong đó tín dụng đối với năng lượng tái tạo, năng lượng sạch chiếm khoảng 45%; Với nông nghiệp sạch, xanh chiếm 30%.
Đặc biệt, dư nợ tín dụng mà các tổ chức tín dụng khi cấp tín dụng đánh giá về các rủi ro môi trường đã tăng lên khoảng 3,2 triệu tỷ đồng trong tổng số dư nợ của cả hệ thống là 15 triệu tỷ đồng.
Công cụ tín dụng xanh được các tổ chức tín dụng cho vay đối với các nhu cầu tiêu dùng, đầu tư, sản xuất kinh doanh mà không gây rủi ro đến môi trường, góp phần bảo vệ hệ sinh thái chung.
Trái phiếu xanh do chính phủ, chính quyền địa phương, doanh nghiệp phát hành. Về bản chất, đây đều là các khoản vay xanh, huy động vốn cho hoạt động bảo vệ môi trường, dự án đầu tư mang lại lợi ích về môi trường.
Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường đề nghị xây dựng Danh mục phân loại xanh, trong đó bao gồm tiêu chí môi trường và việc xác nhận đối với dự án được cấp tín dụng xanh, phát hành trái phiếu xanh.
Thực tế là hiện nay Việt Nam đang có tới hơn 4.000 loại hình dự án đầu tư khác nhau. Công tác xây dựng danh mục đầu tư xanh là khối lượng công việc khổng lồ, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ lưỡng các quy định, yêu cầu về quản lý, mô hình và thể chế tại Việt Nam, có tính đến các kế thừa từ kinh nghiệm quốc tế.
Dự thảo, các dự án đầu tư trong Danh mục phân loại xanh có 8 nhóm, bao gồm: Năng lượng, Giao thông vận tải, Xây dựng, Tài nguyên nước, Nông- lâm- thủy sản, Đa dạng sinh học, Chế biến- chế tạo, Dịch vụ môi trường.
Viện Chiến lược Chính sách Nông nghiệp và Môi trường cũng đề xuất theo hướng quy định tổ chức xác nhận độc lập sẽ đứng ra xác nhận các dự án thuộc danh mục phân loại xanh này để giải quyết doanh nghiệp chủ động nhập cuộc.
Các yêu cầu đối với tổ chức xác nhận độc lập cũng cân phải có điều kiện như: Có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật; Có hệ thống quản lý và năng lực hoạt động đáp ứng những tiêu chuẩn và có chuẩn mực nhất định. Đối tượng có thể là các tổ chức kiểm toán hoặc loại hình kinh doanh đánh giá sự phù hợp.
Doanh nghiệp được xét nhận tài chính xanh cũng cần đưa ra căn cứ để chứng tỏ doanh nghiệp sẽ giảm thiểu tối đa các tác động tới môi trường và tích cực ứng dụng các tiêu chí xanh.
Tiêu chí cụ thể thì các dự án phải thuộc các lĩnh vực như bảo vệ môi trường, mang lại lợi ích cho môi trường.
Doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật về quản lý về môi trường hoặc thông số kỹ thuật của nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, thiết bị, sản phẩm, hàng hóa, chất thải, quy trình sản xuất kinh doanh để chứng minh dự án đáp ứng tiêu chí xanh và được cấp tín dụng xanh, phát hành trái phiếu xanh.
Thực tiễn hiện nay dư nợ tín dụng xanh của Việt Nam đang tập trung chủ yếu vào lĩnh vực như năng lượng sạch, năng lượng tái tạo. Nhưng thực tế tài chính xanh của thế giới thì đa dạng hơn rất nhiều.
Việc xây dựng chiến lược tổng thể về tài chính xanh, cũng cần đảm bảo nhất quán với Luật Bảo vệ môi trường 2020 và Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia; Xác định được vai trò của các bên liên quan; Các cơ quan đầu mối quốc gia để điều phối việc thực hiện tăng trưởng xanh quốc gia.
Danh mục phân loại xanh và cơ chế cập nhật định kỳ xanh cũng cần đảm bảo tính linh hoạt và phù hợp với xu thế phát triển công nghệ carbon thấp; hoàn thiện hướng dẫn quản lý rủi ro môi trường trong hoạt động cấp tín dụng.
Nhà nước cũng cần thiết lập một nền tảng cơ sở dữ liệu quốc gia để theo dõi và công bố thông tin về các sản phẩm tài chính xanh rộng rãi.
Đây là những nền tảng căn bản giúp hệ thống tài chính xanh có thể hoạt động ổn định, trở thành đòn bẩy cho các dự án xanh hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 của Việt Nam.
Theo báo cáo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), bằng nguồn lực trong nước, Việt Nam đặt mục tiêu giảm 15,8% lượng phát thải khí nhà kính vào năm 2030 so với kịch bản phát triển thông thường và tỷ lệ này sẽ đạt 43,5% nếu có hỗ trợ quốc tế. Tương ứng với đó, nhu cầu tài chính lần lượt cần là 21,5 tỷ USD và 86,8 tỷ USD.
Trong đó, hỗ trợ quốc tế chủ yếu dưới các hình thức viện trợ không hoàn lại, các khoản vay ưu đãi, hỗ trợ công nghệ và xây dựng năng lực thực tế tại các đơn vị.
Các nghiên cứu cũng cho thấy chi phí ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam ước tính chiếm từ 3- 5% GDP/năm hàng năm.
Việt Nam đã và đang thu hút nguồn vốn đầu tư tư nhân trong và ngoài nước, nỗ lực huy động các quỹ đầu tư nước ngoài về tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu.
Thuận An
Doanh nghiệp sản xuất xanh