;

Doanh nghiệp nào cũng cần chuẩn bị cho nền kinh tế xanh

Các quy định và chính sách về kinh tế xanh của các nước hiện nay đang diễn ra không đồng nhất mà thường được lồng ghép trong các chiến lược phát triển bền vững, chiến lược tăng trưởng xanh, và các đạo luật chuyên biệt khác nhau về môi trường, khí hậu, tài nguyên bền vững.  

1/10/2025

Rau sạch HTX Quảng Phú, Lâm Đồng

Kinh tế xanh (Green Economy) được định nghĩa rộng rãi là nền kinh tế nhằm cải thiện phúc lợi con người và công bằng xã hội, đồng thời giảm thiểu đáng kể các rủi ro về môi trường và suy giảm sinh thái. Đảm bảo tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, vừa bảo tồn, vừa mở ra không gian phát triển mới văn minh, hiện đại, thông minh.

Thế giới

Hiện nay các quốc gia thường tập trung vào các lĩnh vực thúc đẩy kinh tế xanh nhằm mục tiêu cụ thể như:

Giảm phát thải Carbon: Chuyển đổi sang các nguồn năng lượng carbon thấp, chủ yếu là năng lượng tái tạo (mặt trời, gió, thủy điện). Áp dụng các cơ chế định giá carbon như thuế carbon và hệ thống giao dịch phát thải (ETS) để định rõ chi phí gây ô nhiễm.

Hiệu quả sử dụng Tài nguyên: Thúc đẩy kinh tế tuần hoàn (tái sử dụng, tái chế vật liệu), nông nghiệp bền vững và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

Đổi mới Công nghệ: Đầu tư vào các công nghệ xanh như xe điện, lưới điện thông minh, và sản xuất bền vững.

Tiêu dùng và Sản xuất Bền vững: Quy định về nhãn sinh thái (eco-labels), tiêu chuẩn sản phẩm (ví dụ: Ecodesign của EU), và thúc đẩy mua sắm công xanh.

Công bằng Xã hội (Just Transition): Đảm bảo quá trình chuyển đổi xanh tạo ra việc làm xanh (Green jobs), giảm nghèo và hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương và đảm bảo công bằng xã hội, đặc biệt nhóm yếu thế luôn tập trung ở vùng sâu, vùng xa.

Tuy nhiên thực hiện chính sách rất khác nhau ở các vùng, các quốc gia. EU là một trong những khu vực đi đầu với các quy định xanh mang tính toàn diện:

Thỏa thuận Xanh Châu Âu (European Green Deal): Lộ trình nhằm đưa châu Âu thành châu lục trung hòa carbon đầu tiên vào năm 2050.

Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM): Áp thuế carbon đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước có tiêu chuẩn môi trường thấp hơn, nhằm ngăn chặn tình trạng “rò rỉ carbon” (carbon leakage).

Kinh tế Tuần hoàn: Ban hành Kế hoạch Hành động Kinh tế Tuần hoàn và các quy định như Quy định về Thiết kế Sinh thái cho Sản phẩm Bền vững (ESPR), Luật Chất thải Bao bì (PPWR), và Luật Pin mới.

Với Hoa Kỳ, nước này đã đẩy mạnh các chính sách xanh tương đối cụ thể như sau: Mục tiêu Khí hậu: Giảm 50-52% lượng khí phát thải vào năm 2030 so với mức năm 2005 và đạt mức khử carbon hoàn toàn nền kinh tế vào năm 2050. Đạo luật Giảm lạm phát (IRA): Cung cấp các khoản tín dụng thuế và trợ cấp lớn cho năng lượng tái tạo, xe điện và sản xuất xanh trong nước.

Với các Quốc gia Bắc Âu (Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy), các nước này thường dẫn đầu thế giới về hiệu suất môi trường và chính sách xanh, ví dụ như: Đan Mạch: Tiên phong về năng lượng tái tạo và đặt mục tiêu trở thành nước trung hòa carbon vào năm 2050. Áp dụng các chính sách khuyến khích như thuế xanh và đầu tư vào các cụm đổi mới xanh (GreenLab). Na Uy: Dẫn đầu về Giao thông vận tải xanh, với tỷ lệ xe điện rất cao nhờ các chính sách ưu đãi thuế mạnh mẽ.

Ngoài các quy định của mỗi quốc gia thì các nước còn chịu ảnh hưởng bởi các thỏa thuận quốc tế ràng buộc chung, cùng nhau như:

Hiệp định Paris về Biến đổi Khí hậu (2015): Khuyến khích các quốc gia đặt ra các cam kết tự nguyện về giảm phát thải (NDC) và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) của Liên Hợp Quốc: Đặc biệt là SDG 7 (Năng lượng sạch và giá cả phải chăng), SDG 12 (Sản xuất và tiêu dùng có trách nhiệm) và SDG 13 (Hành động khí hậu), định hướng cho các chiến lược kinh tế xanh.

Doanh nghiệp Việt Nam đứng trước thách thức và cơ hội

Việt Nam đang đứng trước bài toán sống còn: Làm sao thích ứng với nền kinh tế xanh để tiếp tục phát triển và duy trì vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Các quy định về kinh tế xanh đang ngày càng trở nên chặt chẽ và phổ biến trên thế giới trong đó có Việt Nam. Nó tạo ra cả thách thức rõ ràng về hàng rào carbon và cơ hội đầu tư vào công nghệ xanh đang chuyển dịch lớn ở nhiều quốc gia. Do đó các doanh nghiệp muốn hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế bắt buộc phải chuyển đổi xanh, không còn con đường nào khác.

Nhưng các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam cũng đang gặp rất nhiều thách thức trong hành trình chuyển đổi xanh của mình. Một trong những thách thức lớn nhất đó chính là hạn chế về tài chính và công nghệ.

Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam không đủ nguồn lực để đầu tư vào công nghệ sản xuất xanh hoặc các quy trình giảm phát thải. Với tỷ lệ vốn hóa nhỏ và phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn vay bên ngoai nên việc triển khai các biện pháp cải tiến môi trường, phát triển các biện pháp xanh, nâng cấp hệ thống máy móc, sử dụng năng lượng tái tạo lại trở thành gánh nặng. Việc đầu tư cùng một lúc là chuyện bất thành.Nhưng nếu đã có đường hướng và đầu tư nâng cấp từng bước thì hoàn toàn có thể và các doanh nghiệp Việt thường tiếp cận theo hướng đi này.

Với các đơn vị có nguồn tài chính dồi dào hoặc đang đầu tư mới thì cần cân nhắc làm ngay từ đầu và tích hợp các biện pháp xanh vào vận hành chung. Tránh lãng phí, khi phải đầu tư lại, đầu tư nâng cao, mang tính chắp vá, không đồng bộ và tốn thêm nhiều chi phí sửa chữa, nâng cấp trong quá trình sử dụng.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng cần có đội ngũ chuyên trách về quản lý phát thải hoặc hiểu biết sâu sắc về quy định quốc tế. Điều này nhằm tuân thủcác qui định, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, không đánh mất cơ hội cạnh tranh. Ngoài ra, là một phần quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với yêu cầu từ các đối tác quốc tế về giảm phát thải. Nếu không đáp ứng, họ có nguy cơ bị loại khỏi chuỗi giá trị là rất rõ ràng.

Các doanh nghiệp Việt cần phải có sự nhanh nhạy, tìm kiếm các tổ chức quốc tế, cơ quan chính phủ và tổ chức phi chính phủ để nhận hỗ trợ tài chính, kỹ thuật và pháp lý liên quan đến các tiêu chuẩn xanh. Cần chủ động hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước nhằm đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn xanh, và chia sẻ nguồn lực, kinh nghiệm, cách thức chuyển đổi xanh hợp lý, phát triển ổn định, hiệu quả.

Trên thực tế có rất nhiều biện pháp để chuyển đổi xanh với nhiều mô hình doanh nghiệp ở các vùng miền có khó khăn và thuận lợi khác nhau. Chúng ta phải linh hoạt tìm kiếm các giải pháp thay thế sao cho phù hợp nhất. Tránh rập khuôn, làm việc sáo rỗng, không phù hợp với các mô hình vận hành khác nhau ở các doanh nghiệp.

Và trên hết, mục đích chuyển đổi xanh phải luôn song hành với hiệu quả kinh tế, đảm bảo doanh thu, lợi nhuận và phát triển doanh nghiệp ngày càng tốt hơn. Đảm bảo các mục tiêu xanh đóng góp cụ thể vào các sự phát triển ổn định, hiệu quả và bền vững của các doanh nghiệp. Đủ sức chống chọi với tình hình bất ổn trên thế giới và mở rộng thị trường hiệu quả, bền vững, đi cùng các mục tiêu của thời đại và xu thế chung.

Nguyên Minh

Xem thêm

Khoan thư sức dân, nuôi dưỡng nguồn thu: Góc nhìn thực chiến cho cộng đồng doanh nghiệp

Giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động và áp lực chi …

;