;

Chuyển đổi xanh là bắt buộc, doanh nghiệp phải làm gì?

Xuất nhập khẩu lập kỷ lục, Việt Nam vào Top 15 thương mại toàn cầu. Lần đầu tiên trong lịch sử, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt kỷ lục 920 tỷ USD, đưa nền kinh tế vào Top 15 cường quốc thương mại toàn cầu.

29/1/2026

Cùng với chuỗi 10 năm xuất siêu liên tiếp, thành quả này tiếp tục tạo bệ phóng vững chắc để hoạt động ngoại thương chuyển sang phát triển theo chiều sâu và hướng tới những mục tiêu tham vọng hơn.

Nhưng việc chuyển đổi xanh đang là áp lực lớn, liệu khi đối phó với qui định này, các doanh nghiệp xuất khẩu của chúng ta sẽ ra sao?

Khi các thị trường nhập khẩu chủ lực đồng loạt siết chặt tiêu chuẩn xanh, xuất khẩu Việt Nam đối diện lựa chọn then chốt, hoặc chuyển đổi kép (chuyển đổi xanh và chuyển đổi số) để đáp ứng “luật chơi mới”, hoặc chấp nhận nguy cơ bị gạt khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong bối cảnh năm 2026, khi các cơ chế như CBAM (Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon) của EU bắt đầu phát lệnh thực thi, vận hành bắt buộc và các tiêu chuẩn xanh từ Mỹ, Nhật Bản đã và đang siết chặt, “Chuyển đổi kép” không còn là lựa chọn mà là điều kiện sống còn để có thể phát triển thị trường.

Để vượt qua “luật chơi mới” này, doanh nghiệp cần thực hiện một lộ trình thực thi quyết liệt dựa trên 4 điểm chính sau.

Số hóa để minh bạch hóa mọi thứ rõ ràng.

Công nghệ số chính là công cụ để đo lường và chứng minh tính “xanh” của sản phẩm đạt ngưỡng tới đâu.

Hãy thiết lập hệ thống đo lường phát thải rõ ràng. Áp dụng phần mềm để theo dõi dấu chân carbon theo chuẩn quốc tế (như GHG Protocol). Phải tạo ra dữ liệu phát thải chính xác, minh bạch và có thể đo lường được. Đây là “tấm hộ chiếu” để hàng hóa của doanh nghiệp đi vào các thị trường khó tính tại châu Âu.

Xác lập việc truy xuất nguồn gốc bằng Blockchain/IoT. Như việc sử dụng cảm biến và chuỗi khối để ghi lại toàn bộ quy trình từ nguyên liệu thô đến thành phẩm. Điều này đặc biệt quan trọng với ngành nông sản và gỗ, để đáp ứng quy định chống phá rừng – EUDR của châu Âu.

Xanh hóa quy trình sản xuất là bắt buộc với các đơn vị xuất khẩu.

Thay đổi tư duy từ “sản xuất nhanh – rẻ” sang “sản xuất sạch – bền vững” và xanh hóa sản xuất là yêu cầu bắt buộc của Việt Nam trong giai đoạn này. Với một số biện pháp cụ thể như sau.

Tối ưu hóa năng lượng và đầu tư vào năng lượng tái tạo (điện mặt trời mái nhà) và các thiết bị tiết kiệm điện khác. Việc tối ưu hóa này có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm 10-20% chi phí vận hành hoặc hơn, tùy thuộc vào qui mô và cách tiếp cận hệ thống khác nhau của từng doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, hãy phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn. Thiết kế lại sản phẩm để có thể tái chế, tái sử dụng, hoặc phân hủy sinh học. Giảm thiểu rác thải trong quá trình sản xuất, để không chỉ bảo vệ môi trường mà còn giảm chi phí nguyên liệu đầu vào, đầu ra một cách thích đáng và hiệu quả.

Thực hiện quản trị theo tiêu chuẩn ESG.

Nâng cấp bộ máy quản lý để đáp ứng các tiêu chuẩn Môi trường – Xã hội – Quản trị (ESG) một cách qui chuẩn, rõ ràng, minh bạch.

Xây dựng báo cáo ESG hàng quí, hàng năm. Đây là yêu cầu của các tổ chức tài chính khi doanh nghiệp muốn tiếp cận Tín dụng xanh (vay vốn với lãi suất ưu đãi cho dự án bền vững).

Thực hiện đào tạo nhân lực xanh để tạo sự chuyển hướng thực sự từ chính nhân lực làm trong doanh nghiệp. Thực hiện chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đi cùng nhau. Nhưng chuyển đổi kép đòi hỏi đội ngũ nhân sự có tư duy mới và kỹ năng vận hành công nghệ hiện đại, mới có thể làm được. Nếu không thay đổi từ chất, chỉ làm “ngoài da” thì không đi đến nơi nào cả. Vì mọi thứ phải được chứng minh bằng số liệu rõ ràng. Nếu không đáp ứng được với yêu cầu của EU thì không thể xuất hàng đi EU được, đây là điều chắc chắn.

Doanh nghiệp nên chủ động liên kết và cập nhật chính sách.

Trong cuộc đua này, doanh nghiệp không nên đơn độc và làm mọi thứ một mình. Phải tích cực tham gia các liên minh ngành hang, câu lạc bộ doanh nghiệp ngành nghề. Để kịp thời nắm bắt những thay đổi và chuyển dịch kịp thời.

Việc tham gia các liên minh ngành hàng là nhằm để chia sẻ chi phí chứng nhận và học hỏi kinh nghiệm từ các doanh nghiệp đi trước. Từ đó tận dụng được xu hướng, ngay khi vừa triển khai.

Tận dụng hỗ trợ tốt từ Chính phủ, nếu có. Hãy theo dõi các gói hỗ trợ về tư vấn lộ trình chuyển đổi số và các ưu đãi thuế cho sản phẩm xanh quốc gia.

Và tùy vào thị trường mà doanh nghiệp có lộ trình thực thi, theo từng giai đoạn.

Giai đoạn ngắn hạn, trong vòng 6 đến 12 tháng. Nên thực hiện kiểm kê nhà kính, đào tạo nhân lực. Đáp ứng yêu cầu khai bào của cơ chế CBAM, hoặc EUDR (luật chóng phá rừng tại châu Âu).

Giai đoạn tiếp theo đầu tư công nghệ số, chuyển đổi năng lượng thực chất. Nhằm giảm phát thải và tối ưu chi phí. Đồng thời chuẩn hóa toàn diện quy trình sản xuất xanh, thực hành ESG, tham gia thị trường carbon nghiêm túc. Đồng thời trở thành mắt xích ưu tiên trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thực ra quá trình này diễn ra ở mỗi doanh nghiệp là hoàn toàn khác nhau. Do mục tiêu thị trường, thời điểm và cách thức triển khai hệ thống khác nhau thì nhu cầu chuyển đổi ngay lập tức, hay lộ trình khác nhau.

Nếu làm thị trường nội địa thì lộ trình di chậm hơn, tức là nhà nước đang chuẩn bị sàn carbon và đang tập trung vào doanh nghiệp lớn, đầu tàu. Nhưng theo thời gian, tất cả các doanh nghiệp đều phải đi theo qui trình chung này, nhằm giảm phát thải.

Truy xuất nguồn gốc, chứng nhận FSC/PEFC hay kiểm soát chuỗi cung ứng không còn là “điểm cộng” mà nay đã và đang trở thành điều kiện bắt buộc để hàng hóa thâm nhập thị trường EU.

Sự nghiêm ngặt của các tiêu chuẩn xanh, sản xuất xanh đã được áp dụng đồng đều cho mọi doanh nghiệp. Dù là từ một tập đoàn lớn đến nhà máy gia công nhỏ, đều giống như nhau, đều phải tham gia. Nếu không chứng minh được dữ liệu minh bạch về dấu chân carbon, nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu là điều hoàn toàn có thể xảy ra.

Hoàng Thanh

Xem thêm

XK sầu riêng: Hướng tới mốc 4 tỷ USD nhờ loạt giải pháp tháo gỡ.

Tại phiên họp báo Chính phủ thường kỳ, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi …

;