Đây là lời phát ngôn của người đứng đầu Cơ quan Phát triển Pháp (AFD). Một đơn vị tài chính quốc tế đã hỗ trợ nền kinh tế và để lại dấu ấn rõ nét qua hàng loạt dự án lớn về năng lượng tái tạo, giao thông bền vững, nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu và đô thị xanh.
17/1/2026
Mới đây trong một phỏng vấn với báo giới, (cụ thể là TC thitruongtaichinhtiente), ông Julien Seillan, Giám đốc AFD tại Việt Nam đã cho rằng, Việt Nam đang bước vào giai đoạn “bản lề” của chuyển đổi xanh.
Nhận định của Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) về giai đoạn “bản lề” là rất xác đáng. Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để thay đổi mô hình tăng trưởng, nhưng đồng thời cũng đối mặt với áp lực khổng lồ về vốn và công nghệ. Để đi đúng hướng, nhanh hơn và mạnh hơn trên con đường chuyển đổi xanh này, chúng ta cần một chiến lược “kiềng ba chân” kết hợp giữa Chính sách, Tài chính và Công nghệ.
Đi đúng hướng.
Thực tế là, chuyển đổi xanh không thể chỉ dựa vào sự tự nguyện, nó cần một “luật chơi” minh bạch, cấn hoàn thiện hành lang pháp lý để các hoạt động sản xuất xanh đi đúng hướng. Và thực tế là thời gian qua Việt Nam cũng đang từng bước nhập cuộc ở một số lĩnh vực.
Về quy hoạch điện VIII và năng lượng tái tạo chúng ta đang dân hoàn thiện, nhưng cần cụ thể hóa hơn nữa, các cơ chế để tư nhân có thể tham gia vào lưới điện truyền tải và sản xuất năng lượng sạch (điện gió ngoài khơi, điện mặt trời áp mái).
Trong đó, khuyến khích tư nhân bỏ vốn sản xuất, vận hành, cung cấp nguồn năng lượng cho nên kinh tế. Và thực tế là vừa qua T&T đã hoàn thành đường tải điện từ Lào về Việt Nam.
Đánh dấu một bước quan trọng, khi một đơn vị tư nhân sản xuất, vận hành, cung ứng điện cho nền kinh tế, bằng biện pháp sản xuất xuyên biên biên giới. Đây là bước ngoặt trong việc cung ứng nguồn năng lượng tái tạo, do tư nhân làm chủ, thực sự rất đáng khích lệ.
Về thị trường Carbon và vận hành thị trường cacbon thì Việt Nam cũng cần sớm vận hành thị trường tín chỉ carbon nội địa và kết nối được với thế giới. Đây là công cụ quan trọng để buộc các doanh nghiệp phát thải phải trả giá và khuyến khích các dự án giảm phát thải nhiều hơn. Khuyến khích con đường tăng trưởng xanh bền vững, thấm sâu vào cộng đồng doanh nghiệp Việt.
Về tiêu chuẩn phân loại xanh quốc gia. Chúng ta cần một bộ tiêu chuẩn quốc gia rõ ràng, về cái gì được gọi là “dự án xanh”, để tránh tình trạng “tẩy xanh”. Đồng thời giúp ngân hàng dễ dàng giải ngân vốn cho doanh nghiệp, theo các tiêu chí rõ ràng.
Để đi nhanh hơn: Cần khơi thông dòng vốn xanh.
Nguồn lực từ ngân sách chỉ chiếm một phần nhỏ, chìa khóa nằm ở việc huy động vốn quốc tế và tư nhân cho quá trình phát triển xanh đi nhanh hơn. Chúng ta buộc phải tìm mọi cách để tiếp cận và “mở lối”, khơi thông dòng vốn xanh này càng sớm, càng tốt.
Trong đó có một số biện pháp cụ thể như sau.
Thứ nhất là, tận dụng tốt đối tác JETP. Việt Nam cần thực hiện hóa các cam kết trong Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP) để tiếp cận nguồn vốn ưu đãi 15,5 tỷ USD từ các nước phát triển.
Thứ hai là, phát hành trái phiếu xanh và khuyến khích doanh nghiệp phát hành trái phiếu xanh để huy động vốn trực tiếp từ thị trường cho các dự án môi trường, phát trienr các hoạt động sản xuất xanh.
Thứ ba ưu đãi tín dụng xanh, Ngân hàng nhà nước cần có các chính sách ưu đãi về lãi suất hoặc hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại tập trung cho vay lĩnh vực bền vững. Từ đó giúp bổ sung dòng vốn xanh cho nền kinh tế và sự phát triển của các doanh nghiệp.
Đi mạnh hơn, cần chú ý Công nghệ và chuyển đổi số.
Chúng ta đã bàn đến việc đi đúng hướng, đi nhanh hơn và giờ cần bàn đến câu chuyện đi mạnh hơn. Và chìa khóa để mở ra trong các bước vững mạnh hơn đó chính là Công nghệ và chuyển đối số.
Công nghệ là động cơ giúp chuyển đổi xanh không còn là gánh nặng chi phí mà trở thành lợi thế cạnh tranh thực sự. Công nghệ có dấu ấn quan trọng trong quá trình xanh hóa sản xuất.
Trước hết, lưu trữ năng lượng. Để phát triển mạnh điện gió và điện mặt trời vốn có tính chập chờn, Việt Nam cần phải làm chủ hoặc thu hút đầu tư vào công nghệ pin lưu trữ và lưới điện thông minh.
Đây vốn là các giải pháp nhằm đảm bảo nguồn năng lượng này hoạt động ổn định. Và nó hoàn toàn có thể trở thành nguồn năng lượng bền vững. Đáp ứng tốt với sự phát triển chung của nền kinh tế, đòi hỏi giảm pháp thải và năng lực vận hành sản xuất xanh mang chuẩn quốc tế cao hơn. Đặc biệt với các doanh nghiệp sản xuất dành cho xuất khẩu.
Ngoài ra còn phải đẩy nhanh phát triển rộng rãi các mô hình kinh tế tuần hoàn. Ứng dụng công nghệ vào việc tái chế rác thải thành nguyên liệu đầu vào.
Đặc biệt trong các ngành dệt may, da giày và điện tử phải đáp ứng tiêu chuẩn của EU (như CBAM – Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon) và hòa vào dòng chảy xanh của nền kinh tế xanh toàn cầu.
Trong đó, lĩnh vực Nông nghiệp xanh là cực kỳ quan trọng. Và khi nước là có dân số sống chủ yếu sống ở nông thôn và phát triển chủ yếu từ kinh tế Nông nghiệp.
Thời gian qua, việc áp dụng IoT và dữ liệu lớn để tối ưu hóa lượng phân bón, nước tưới, giảm phát thải khí methane trong canh tác lúa gạo đang có kết quả tốt. Đồng thời, các biện phát phát triển nông lâm nghiệp xanh thực chất và bền vững hơn.
Những hoạt động này cũng đang thu hút các tổ chức tài chính quốc tế đổ về Việt Nam, tìm đối tác cho vay.
Vai trò của các tổ chức quốc tế.
Hiện nay tại Việt Nam có khoảng 5-7 nhóm tổ chức tài chính quốc tế lớn đang “đổ bộ” vào mảng tài chính xanh của Việt Nam. Mỗi bên lại có một “gu” đầu tư riêng rất khác nhau.
Như dự án tại VNADB (Ngân hàng Phát triển Châu Á), họ mạnh về hạ tầng và năng lượng. Nên họ thường ưu tiên các dự án có quy mô lớn, tác động vùng để cho vay. Họ đã giải ngân gói vay 135 triệu USD cho VinFast phát triển xe buýt điện/trạm sạc.
Hay tổ chức World Bank (Ngân hàng Thế giới). Họ đang tập trung vào chính sách vĩ mô và hạ tầng bền vững trên quy mô quốc gia. Và Dự án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở ĐBSCL là một ví dụ.
Với tổ chức IFC (Thành viên World Bank) thì họ lại tập trung cho vay khu vực tư nhân. Họ không cho Chính phủ vay mà tập trung rót vốn vào các doanh nghiệp lớn và một trong dự án đó là rót vốn vào SeABank để phát hành Trái phiếu Xanh đầu tiên tại VN.
Với tổ chức AFD (Pháp), KfW (Đức), JICA (Nhật) thì đây là các tổ chức phát triển song phương. Họ thường ưu tiên quan hệ ngoại giao, hỗ trợ kỹ thuật và các dự án năng lượng, môi trường, cấp chính phủ. Một số dự án như Tuyến Metro số 3 (Hà Nội) chẳng hạn. Dù họ có cho vay doanh nghiệp, nhưng không nhiều.
Với các dự án chống biến đổi khí hậu thì EIB (Ngân hàng Đầu tư Châu Âu) lại tập trung vào các dự án chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP). Họ cũng vừa ký kết hỗ trợ NHNN xây dựng hệ thống quản lý rủi ro khí hậu.
Thực tế là, các tổ chức cho vay quốc tế đang hỗ trợ Việt Nam dưới nhiều hình thức.
Các tổ chức quốc tế như Cơ quan Phát triển Pháp (AFD); ADB (Ngân hàng Phát triển Châu Á)…vv. Họ không chỉ hỗ trợ về vốn mà còn hỗ trợ về năng lực quản trị.
Để tận dụng tốt sự đồng hành của họ, Việt Nam cần có nhiều việc phải làm. Quan trọng nhất là, thay vì nhìn nhận đơn thuần rằng, họ là nguồn cấp vốn, hãy xem họ là những Đối tác chiến lược, với 3 vai trò chính như sau.
Người bảo trợ rủi ro tốt, khi mà họ đã chấp nhận rót vốn vào các lĩnh vực mới (như điện gió ngoài khơi, Hydrogen xanh) mà các ngân hàng thương mại trong nước chưa dám làm, hoặc sợ rủi ro.
Nhưng sự hiện diện của họ là tạo nguồn mạch và dòng chảy lớn để cho các hoạt động sản xuất xanh này vận hành tốt hơn trong nền kinh tế. Các đơn vị tư nhân, cổ phần, được vay, cũng tự tin hơn, khi chảy theo dòng chảy chung của nền kinh tế xanh thế giới, với các tiêu chí thẩm định khắt khe.
Họ cũng góp phần đóng góp vào kiến trúc sư thể chế. Các tổ chức vốn quốc tế không chỉ đưa tiền, họ đưa chuyên gia để giúp Chính phủ Việt Nam xây dựng “luật chơi” chung với “sân chơi” thế giới, ví dụ: khung pháp lý cho thị trường Carbon, tiêu chuẩn tòa nhà xanh…vv.
Cầu nối công nghệ. Tổ chức quốc tế còn kết nối doanh nghiệp Việt với các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới để chuyển giao giải pháp xanh và phát triển hệ sinh thái xanh cho các doanh nghiệp Việt.
Đây là điều quan trọng khi nhiều doanh nghiệp, từ chỗ được vay vốn, đã từng bước chuẩn hóa các hoạt động theo chuẩn quốc tế. Từ đó giúp cho sự phát triển của họ lành mạnh, minh bạch và dễ kiểm soát hơn.
Trên thực tế, sự đồng hành của các tổ chức như quốc tế, thường diễn ra qua hai kênh chính.
Kênh Chính phủ với giải pháo cho vay ưu đãi, thông qua Bộ Tài chính để làm các dự án hạ tầng lớn như đê chắn sóng, nâng cấp lưới điện quốc gia, hay hệ thống Metro…được hoàn thành từ nguồn vốn này.
Kênh Doanh nghiệp, tức là thông qua các ngân hàng như Agribank, VietinBank …để cấp các dòng tín dụng xanh với lãi suất thấp hơn thị trường từ 1-2% để doanh nghiệp này có thể tiếp cận được dòng vốn ưu đãi.
Ở Việt Nam, rất ít doanh nghiệp (ngoại trừ các “ông lớn” như EVN hay PVN) có đủ xếp hạng tín nhiệm quốc tế để vay vốn quốc tế, vay trực tiếp mà không cần bảo lãnh từ Chính phủ.
Nhưng cũng có một vài công ty cổ phần đã và đang vay được từ nguồn vốn vay này như Nước và môi trường Bình Dương – Biwwase chẳng hạn đã vay được khoản xanh của Ngân hàng ADB.
Mặc dù hình thức cho vay trực tiếp với các doanh nghiệp thì đang còn ở mức rất khiêm tốn. Nhưng nó cũng là kênh huy động vốn cho những doanh nghiệp có nền tẳng và có uy tín, có thêm nguồn lực, khi kết nối trực tiếp với các nguồn vốn xanh quốc tế.
Trên thực tế là các tổ chức tài chính quốc tế, không có hệ thống chi nhánh rộng khắp để quản lý hàng nghìn khoản vay nhỏ của doanh nghiệp. Do đó thay vào cách cho vay trực tiếp, họ chọn cách “Bán buôn” cho các Ngân hàng. Ngân hàng cho doanh nghiệp vay lại.
Cụ thể là, họ rót một khoản tiền lớn vào các ngân hàng thương mại Việt Nam như BIDV, VietinBank, Vietcombank, HDBank, Nam A Bank…Các ngân hàng này sẽ là người trực tiếp “bán lẻ” lại cho doanh nghiệp dưới dạng Tín dụng xanh.
Nhưng có một thực tế là, đôi khi dòng vốn này bị “tắc nghẽn” tại chính các ngân hàng trung gian.
Do các điều kiện giải ngân quá khắt khe hoặc lãi suất sau khi cộng phí quản lý không còn đủ hấp dẫn doanh nghiệp nữa. Nhưng với các doanh nghiệp đi đường dài, cần vốn lớn, thì các khoản vay này thực sự có ích.
Còn có rất nhiều việc phải làm để Việt Nam có thể tiếp cận được các nguồn vốn này hiệu quả. Nhưng nếu doanh nghiệp có hướng phát triển xanh, làm lớn thì việc vay này sẽ dễ dàng hơn.
Các tổ chức cho vay quốc tế thường muốn cho vay khoản lớn, từ 20 đến 30 triệu đô, trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam có qui mô nhỏ, chỉ cần khoản vay thường nhỏ và vừa, thường rơi vào 1,5 đến 2 triệu đô là nhiều và phổ biền.
Nhưng các tổ chức cho vay quốc tế lại “thấy ngại” và thấy không “bõ công” để cho vay các khoản nhỏ như vậy, có thể là họ “chê ít” và thấy khó giải ngân.
Thành ra, việc vay được và cho vay được, còn nhiều điểm nghẽn, nút thắt, từ chính thực tế của cả hai phía, phía doanh nghiệp và lẫn các tổ chức tài chính quốc tế.
Giải quyết được nút thắt này là có thể khơi thông dòng vốn xanh cho nền kinh tế, đây là điều mà nhiều doanh nghiệp phát triển xanh đang rất mong “phá tan băng” các vấn đề này.
Hy vọng là trong thời gian tới các doanh nghiệp Việt tìm ra cách giải quyết được nút thắt này, nhằm mở rộng nguồn lực và phát triển bền vững hơn. Từ chính các nguồn vốn quốc tế rất lớn này. Họ đang “đứng chờ” để có cơ hội được đổ vốn vào nền kinh tế xanh của Việt Nam và chúng ta phải tích cực tìm giải pháp “phá tảng băng” này, càng sớm, càng tốt.
Thành Nguyễn.
Doanh nghiệp sản xuất xanh